Homepage E-Paper 23/09/2017
Xử lý tài sản bảo đảm là cổ phần và phần vốn góp: Thiếu quy định, nhiều rủi ro
Thứ Hai,  6/3/2017, 17:19 (GMT+7)

Xử lý tài sản bảo đảm là cổ phần và phần vốn góp: Thiếu quy định, nhiều rủi ro

Đặng Ngọc Hương (*)

Bộ luật Dân sự 2005 quy định cổ phiếu là một loại tài sản được sử dụng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. Ảnh: interrnet

(TBKTSG) - Trong các cấu trúc tài chính và giao dịch vốn, các bên thường sử dụng chứng khoán, cổ phần hoặc phần vốn góp trong doanh nghiệp để đảm bảo cho việc thực hiện các nghĩa vụ thanh toán, trả nợ hoặc nghĩa vụ khác.

Trong khi giao dịch bảo đảm đối với chứng khoán (cổ phiếu của công ty đại chúng hoặc công ty niêm yết) được thực hiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành về đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán chứng khoán; giao dịch bảo đảm có tài sản bảo đảm là cổ phiếu của công ty cổ phần hoặc phần vốn góp trong công ty trách nhiệm hữu hạn được thực hiện theo quy định của Bộ luật Dân sự (BLDS), Nghị định 163/2006/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm (đã được sửa đổi bổ sung năm 2010 và năm 2012) và Luật Doanh nghiệp.

Quy định về cầm cố cổ phiếu hoặc phần vốn góp chưa rõ ràng

Theo đánh giá chung, việc cầm cố và xử lý chứng khoán cầm cố không gặp quá nhiều trở ngại khi thực hiện trên thực tế. Thế nhưng, đối với cổ phiếu hoặc phần vốn góp, do các quy định pháp luật vẫn chưa rõ ràng nên có nhiều rủi ro pháp lý phát sinh đối với các bên tham gia vào giao dịch bảo đảm, đặc biệt là các rủi ro trong quá trình xử lý tài sản bảo đảm khi nghĩa vụ được bảo đảm đến hạn phải thực hiện.

Trước đây, BLDS 2005 quy định cổ phiếu là một loại tài sản được sử dụng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. Đối với phần vốn góp, BLDS 2005 quy định tài sản bảo đảm là quyền tài sản đối với phần vốn góp mà không phải là bản thân phần vốn góp (sau đây để dễ theo dõi, quyền tài sản đối với phần vốn góp được gọi tắt là phần vốn góp). Rất tiếc là khi hướng dẫn chi tiết về tài sản trong giao dịch bảo đảm, Nghị định 163 nói trên chỉ quy định việc thực hiện cầm cố cổ phiếu mà không đề cập đến phạm vi hay điều kiện để sử dụng phần vốn góp làm tài sản bảo đảm. Thêm vào đó, Luật Doanh nghiệp 2005 cũng hoàn toàn im lặng về vấn đề này nên có thể nói rằng cơ sở pháp lý chủ yếu của việc thế chấp phần vốn góp là BLDS 2005.

Kể từ ngày 1-1-2017, BLDS 2015 có hiệu lực thi hành và thay thế cho BLDS 2005. Theo đó, BLDS 2015 không còn quy định cụ thể về tài sản bảo đảm như BLDS 2005 và chỉ quy định chung chung là tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản nếu thỏa mãn các điều kiện quy định pháp luật sẽ được sử dụng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. Câu hỏi đặt ra là phần vốn góp có được phép sử dụng trực tiếp làm tài sản bảo đảm hay pháp luật chỉ công nhận quyền tài sản đối với phần vốn góp mới là tài sản bảo đảm.

Do không được điều chỉnh cụ thể bởi các quy định hiện hành, để trả lời được câu hỏi này và giảm thiểu các tranh chấp về hiệu lực của giao dịch bảo đảm, các chuyên gia pháp lý sẽ cần phải dẫn chiếu và vận dụng nhiều quy định pháp luật có liên quan. Tuy nhiên, đây chưa phải là vấn đề đáng quan ngại nếu so sánh với các rủi ro pháp lý phát sinh trong quá trình xử lý tài sản bảo đảm là cổ phiếu và phần vốn góp.

Xử lý tài sản bảo đảm là cổ phiếu hoặc phần vốn góp theo thỏa thuận sẽ như thế nào?

Việc xử lý tài sản bảo đảm là cổ phiếu hoặc phần vốn góp có thể thực hiện theo thỏa thuận của các bên trong hợp đồng cầm cố, thế chấp hoặc bán đấu giá theo quy định pháp luật. Trong khuôn khổ bài viết này, tác giả chỉ đề cập đến phương thức xử lý tài sản bảo đảm theo thỏa thuận. Theo đó, căn cứ Nghị định 163, có hai cách xử lý tài sản bảo đảm là cổ phiếu hay phần vốn góp là (i) chuyển nhượng cổ phần hoặc phần vốn góp có liên quan cho bên thứ ba hoặc (ii) nhận chính cổ phần hoặc phần vốn góp có liên quan thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm.

Từ góc độ pháp lý, việc nhận cổ phiếu hay phần vốn góp là đối tượng của tài sản bảo đảm sẽ dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu cổ phần hoặc phần vốn góp; do đó, Luật Doanh nghiệp 2014 sẽ tham gia điều chỉnh quá trình xử lý tài sản bảo đảm. Đối với cổ phần, ngoại trừ các hạn chế áp dụng cho cổ đông sáng lập, việc chuyển nhượng cổ phần chỉ được xem là hoàn tất khi cổ đông sở hữu cổ phần này được ghi tên vào sổ đăng ký cổ đông của doanh nghiệp và được chấp thuận bởi cơ quan có thẩm quyền theo quy định pháp luật (chẳng hạn có liên quan đến sở hữu vốn của nhà đầu tư nước ngoài). Đối với phần vốn góp trong công ty trách nhiệm hữu hạn, việc chuyển nhượng phần vốn góp không hề đơn giản vì phải được sự đồng ý của tất cả thành viên công ty và phải thực hiện đăng ký thay đổi thành viên với cơ quan có thẩm quyền trong mọi trường hợp.

Trên thực tế, khó khăn hiện nay là Luật Doanh nghiệp 2014 không quy định các thủ tục đăng ký cổ đông của công ty cổ phần và thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn trong trường hợp xử lý tài sản bảo đảm là cổ phiếu và phần vốn góp. Trao đổi vấn đề này với một số cơ quan đăng ký kinh doanh, câu trả lời chung là phải hỏi ý kiến của các bộ, ban, ngành có liên quan.

Pháp luật không cấm nhưng vấn đề là cơ quan đăng ký kinh doanh không có thủ tục để thực hiện. Một số ý kiến cho rằng đây là giao dịch chuyển nợ thành vốn điều lệ, nên phải dựa trên các văn bản vay nợ để xử lý. Một số khác lại cho rằng đây là chuyển nhượng cổ phần hoặc phần vốn góp và vì vậy phải có hợp đồng chuyển nhượng vốn. Trong mọi trường hợp, pháp luật không quy định thủ tục để đăng ký bên nhận bảo đảm là chủ sở hữu của cổ phần trong công ty cổ phần hoặc phần vốn góp trong công ty trách nhiệm hữu hạn như là hệ quả trực tiếp của việc xử lý tài sản bảo đảm là cổ phiếu hoặc phần vốn góp.

Nói cách khác, pháp luật hiện hành cho phép sử dụng cổ phiếu và phần vốn góp để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ dân sự nhưng không quy định điều kiện và thủ tục có liên quan để xử lý tài sản bảo đảm của loại hình giao dịch bảo đảm này. Để giảm thiểu rủi ro trong quá trình xử lý tài sản bảo đảm như đã nêu trên, các chuyên gia tư vấn bắt buộc phải cấu trúc giao dịch với nhiều loại tài liệu và ràng buộc pháp lý giữa các bên trong giao dịch bảo đảm. Tuy nhiên, khi khung pháp lý không vững chắc, việc phát sinh tranh chấp hoặc rủi ro trên thực tế là điều rất khó kiểm soát, đặc biệt nếu bên bảo đảm cố tình cản trở việc xử lý tài sản bảo đảm.

Một điều cần lưu ý là đa phần các cấu trúc tài chính và giao dịch vốn hiện nay có yếu tố nước ngoài nên nếu không có cơ chế pháp lý rõ ràng, các nhà đầu tư nước ngoài sẽ khá e dè trong việc chuyển tiền đầu tư cho thị trường vốn của Việt Nam. Bên cạnh đó, các bên trong các giao dịch bảo đảm đối với cổ phiếu và phần vốn góp đã và đang thực hiện nhưng chưa lường trước các rủi ro pháp lý phát sinh sẽ có thể có tranh chấp trong trường hợp nghĩa vụ bảo đảm đến hạn nhưng không thể thực hiện.

Chính vì vậy, hoàn thiện khung pháp lý cho vấn đề này thực sự là cần thiết để bảo vệ quyền và lợi ích của các bên có liên quan và giúp cho các giao dịch vốn phát sinh trong quá trình kinh doanh được thuận lợi thực hiện.

(*) Local Partner - DS AVOCATS Vietnam

Chia sẻ:
   
CÙNG CHUYÊN MỤC
>>Xem thêm chuyên mục khác:
© 2012 - 2015 Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online.