Homepage E-Paper 22/08/2017
Ngành gạo: Bàn sửa Nghị định 109
Thứ Ba,  14/3/2017, 08:17 (GMT+7)

Ngành gạo: Bàn sửa Nghị định 109

Đức Tâm

Cần sửa chữa, bổ sung Nghị định 109 để tạo động lực phát triển cho ngành lúa gạo.Ảnh: Trung Chánh

(TBKTSG) - Sau một thời gian hoạt động, Nghị định 109/2010/NĐ-CP (NĐ 109) bộc lộ những hạn chế nhất định đối với sự phát triển của doanh nghiệp, đặc biệt, tạo rào cản gia nhập thị trường xuất khẩu gạo đối với những doanh nghiệp nhỏ. Để tạo động lực phát triển cho ngành lúa gạo, việc sửa chữa, bổ sung nghị định này là cần thiết.

Hiệp hội lương thực Việt Nam có lớn hơn Bộ Công thương?

Trao đổi với các phóng viên trong chuyến “Điền dã báo chí về sản xuất và xuất khẩu gạo Việt Nam trong bối cảnh mới” vào ngày 24-2 (*), ông Phạm Thái Bình, Giám đốc Công ty cổ phần Nông nghiệp công nghệ cao Trung An, cho rằng cần xem lại vai trò của Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) trong việc điều hành xuất khẩu gạo. Theo ông, dẫu doanh nghiệp đã được Bộ Công Thương cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo, việc xuất khẩu vẫn không được cơ quan hải quan thông qua nếu thiếu phần xác nhận của VFA. “Như vậy, hóa ra VFA to hơn Bộ Công Thương hay sao?”, ông Bình đặt câu hỏi.

Thời gian để VFA thông qua hồ sơ thường mất hai ngày, nhưng chậm trễ chỉ là một vấn đề. Vấn đề khác lớn hơn là thông tin xuất khẩu của doanh nghiệp có thể bị rò rỉ. Ông Bình đưa ra một tình huống để phân tích: Giả sử Trung An xuất khẩu gạo cho đối tác A ở quốc gia X với giá 500 đô la Mỹ/tấn. Theo quy định tại khoản 2, điều 17, NĐ 109, Trung An phải đăng ký hợp đồng xuất khẩu gạo tại VFA. Thông tin này có thể bị rò rỉ và một công ty khác tại Việt Nam biết được, họ có thể chào giá thấp hơn cho đối tác A, 480 đô la/tấn chẳng hạn. Khi đó, để có được đơn hàng, hoặc công ty này sẽ ép giá nông dân, hoặc họ chấp nhận lợi nhuận thấp hơn. Trong cả hai trường hợp đều chẳng đem lại lợi ích, nếu không muốn nói là gây thiệt hại cho ngành lúa gạo quốc gia.

Trước đó, ngày 22-2, tại buổi tọa đàm “Trao đổi với doanh nghiệp về định hướng sửa đổi Nghị định 109/2010/NĐ-CP”, ông Võ Hùng Dũng, Giám đốc Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) chi nhánh Cần Thơ, cho rằng chuyện xuất khẩu gạo không cần phải đăng ký qua VFA, bởi số liệu xuất khẩu phục vụ việc lập báo cáo và quản lý, VFA có thể lấy được từ hải quan. Tại sao ngành cá làm được mà ngành gạo làm không được?

Thị trường tập trung và những rào cản

Theo điều 16, NĐ 109, hợp đồng xuất khẩu gạo tập trung là hợp đồng xuất khẩu gạo được ký kết theo thỏa thuận giữa cơ quan có thẩm quyền của Chính phủ Việt Nam và chính phủ nước ngoài hoặc vùng lãnh thổ nước ngoài và các hợp đồng xuất khẩu gạo được ký kết theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.

Theo điều 08, Thông tư 44/2010/TT-BCT quy định chi tiết một số điều của Nghị định 109 (TT 44), Bộ Công Thương sẽ chỉ định một doanh nghiệp làm đầu mối xuất khẩu gạo chịu trách nhiệm thực hiện hợp đồng tập trung. Doanh nghiệp đầu mối được quyền xuất khẩu trực tiếp 20% trên tổng lượng gạo được ký trong hợp đồng; 80% còn lại được ủy thác cho các doanh nghiệp khác theo những tiêu chí được nêu trong NĐ 109.

Giấy phép xuất khẩu, giá bao nhiêu?

Trong tọa đàm ngày 22-2, ông Ngô Văn Nam, Giám đốc Công ty TNHH ADC, cho biết một công ty dịch vụ chào giá 20.000 đô la Mỹ với ADC để làm hồ sơ xin giấy chứng nhận đủ điều kiện xuất khẩu gạo.

Tuy vậy, một số doanh nghiệp đã có giấy chứng nhận đủ điều kiện xuất khẩu gạo như Công ty cổ phần Nông sản Vinacam, Cờ Đỏ hay Trung An cho biết họ xin giấy phép xuất khẩu gạo thuận lợi và không tốn chi phí gì ngoài những khoản lệ phí như quy định.

Thế nhưng theo ý kiến một doanh nghiệp tại buổi tọa đàm, việc ủy thác như trên có khả năng dẫn đến tình huống giao hợp đồng tốt cho doanh nghiệp này, hợp đồng “xương xẩu” cho doanh nghiệp kia. Để giải quyết vấn đề trên, đại diện doanh nghiệp này đề nghị thực hiện các hợp đồng tập trung thông qua cơ chế đấu thầu và về dài hạn nên cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước để tạo sân chơi bình đẳng cho các doanh nghiệp.

Chưa hết, các quy định về thị trường có hợp đồng tập trung còn bộc lộ một vấn đề. Theo điều 15, TT 44, “Thương nhân không được giao dịch, ký kết hợp đồng xuất khẩu gạo hoặc để bên mua tái xuất gạo vào thị trường có hợp đồng tập trung trong thời gian quy định tại khoản 2 điều này, trừ trường hợp được Bộ Công Thương chấp thuận bằng văn bản theo quy định tại khoản 3 điều này”.

Như vậy, theo quy định này, trong trường hợp Việt Nam có hợp đồng tập trung cùng một quốc gia khác, ví dụ như Indonesia, thì các doanh nghiệp sẽ không được ký hợp đồng thương mại với đối tác tại quốc gia này. Điều này đẩy các doanh nghiệp xuất khẩu gạo vào thế khó khi hạn chế cơ hội kinh doanh của họ. Đồng thời, khi Chính phủ có hợp đồng tập trung với càng nhiều quốc gia khác nhau, các doanh nghiệp xuất khẩu gạo theo diện hợp đồng thương mại càng khó tìm kiếm thị trường cho mình.

Về vấn đề này, ông Phạm Thái Bình đề nghị nên bỏ sự phân biệt thị trường tập trung và thị trường thương mại. Theo ông Bình, cùng một quốc gia, thị trường tập trung có phân khúc khách hàng riêng, thị trường thương mại có phân khúc khách hàng riêng, không nên cấm doanh nghiệp tìm cơ hội kinh doanh.

Thật ra, TT 44 không hoàn toàn cấm doanh nghiệp tham gia xuất khẩu vào thị trường tập trung. Khoản 3, điều 15, TT 44, viết: “Việc chấp thuận cho thương nhân giao dịch, ký kết hợp đồng xuất khẩu gạo hoặc xuất khẩu cho thương nhân nước ngoài tái xuất gạo vào thị trường có hợp đồng tập trung được quy định như sau:

a)Thương nhân có đề nghị bằng văn bản kèm theo các tài liệu liên quan gửi Bộ Công Thương và sao gửi Hiệp hội Lương thực Việt Nam; b) Sau khi nhận được đề nghị bằng văn bản của thương nhân, Bộ Công Thương xem xét và có văn bản trả lời”. Tuy nhiên, những điều khoản này đặt doanh nghiệp xuất khẩu vào thế bị động khi phải chờ Bộ Công Thương xem xét, đồng thời chia sẻ thông tin với VFA và hy vọng đối tác kiên nhẫn đợi kết quả. Rõ ràng, trong bối cảnh thị trường xuất khẩu gạo ngày càng cạnh tranh khi có thêm những đối thủ mới, những ràng buộc vừa nêu ít nhiều hạn chế cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp trong nước.

Nhìn lại NĐ 109

Nhớ lại khoảng thời gian trước năm 2010, ông Nguyễn Văn Ngọc, Trưởng phòng Kinh doanh Công ty TNHH một thành viên Nông nghiệp Cờ Đỏ, cho biết thời đó xuất khẩu gạo lãi lớn vì nhu cầu thế giới rất cao, trong khi lượng cung có hạn. Vậy là các doanh nghiệp, thậm chí ngoài ngành, cũng nhảy vào xuất khẩu gạo. Trong bối cảnh như vậy, NĐ 109 ra đời sau khoảng chục cuộc họp, nhằm ổn định thị trường. “Tuy vậy, qua năm năm thực hiện, tôi thấy không hiệu quả. Thôi thì bỏ NĐ 109 đi để tạo sân chơi bình đẳng cho doanh nghiệp tham gia và để cơ chế thị trường đào thải những doanh nghiệp yếu kém”, theo ông Ngọc.

Nhưng nếu bỏ NĐ 109, liệu thị trường có loạn? Trả lời câu hỏi này, ông Ngọc chia sẻ: “Từ ngày có NĐ 109, tôi thấy thị trường vẫn loạn như xưa. Tôi bán gạo 25% tấm, giá 349 đô la/tấn thì có doanh nghiệp chào bán 345 đô la/tấn. Giá xuất khẩu vẫn trượt. Thương hiệu vẫn không có”.

Tương tự ông Ngọc, ông Nguyễn Minh Nhị, nguyên Chủ tịch tỉnh An Giang, cho rằng NĐ 109 đã không còn phù hợp với tình hình thực tế. Thay vì quản lý xuất khẩu dựa trên số lượng, ông Nhị cho rằng nên tập trung vào quản lý hai yếu tố quan trọng là giá cả và chất lượng: quản lý về giá để đảm bảo quyền lợi cho nông dân; quản lý về chất lượng để đảm bảo uy tín ngành gạo Việt Nam, và đối với những doanh nghiệp xuất khẩu không đảm bảo chất lượng khi xuất khẩu, khi phát hiện, cần phải xử lý đến nơi đến chốn. n

(*) Chuyến điền dã báo chí do Viện Nghiên cứu kinh tế và chính sách (VEPR) tổ chức nhằm thu thập ý kiến doanh nghiệp về việc sửa đổi Nghị định 109.

Trước đó, cuối tháng 11-2016, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung Phụ lục 4 Luật Đầu tư 2014, theo đó kinh doanh xuất khẩu gạo thuộc danh mục ngành, nghề kinh doanh có điều kiện. Để cụ thể hóa luật này,

Chính phủ đã giao Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp cùng các bên có liên quan đề xuất phương án sửa đổi Nghị định 109/2010/NĐ-CP về kinh doanh xuất khẩu gạo vào quí 2-2017.

Chia sẻ:
   
CÙNG CHUYÊN MỤC
>>Xem thêm chuyên mục khác:
© 2012 - 2015 Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online.