Homepage E-Paper 25/09/2017
Siết các khoản vay được Chính phủ bảo lãnh
Thứ Sáu,  10/3/2017, 08:17 (GMT+7)

Siết các khoản vay được Chính phủ bảo lãnh

Đăng Linh

Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) có số vay được Chính phủ bảo lãnh nhiều nhất, tại thời điểm cuối năm 2015 đã lên tới 9,7 tỉ đô la Mỹ, tương đương 46% tổng số nợ được Chính phủ bảo lãnh. Ảnh: THÀNH HOA

(TBKTSG) - Nghị định 04/2017/NĐ-CP về cấp và quản lý bảo lãnh chính phủ có hiệu lực từ ngày 1-3-2017 được cho là sẽ góp phần quản lý tốt hơn các khoản vay được Chính phủ bảo lãnh. Đây cũng là điều cần thiết đối với chiến lược quản lý nợ công nói chung khi rủi ro liên quan đến vấn đề này ngày càng lớn.

Dư nợ các khoản vay được Chính phủ bảo lãnh ngày càng lớn

Theo Bản tin nợ công số 4 ngày 30-6-2016 của Bộ Tài chính, dư nợ các khoản vay được Chính phủ bảo lãnh (cả vay trong nước và nước ngoài) có xu hướng tăng dần trong giai đoạn 2010-2014. Cụ thể, năm 2010 con số này là 11,9 tỉ đô la Mỹ; năm 2011 là 13,8 tỉ đô la Mỹ; năm 2012 là 16,4 tỉ đô la Mỹ; năm 2013 là 18,8 tỉ đô la Mỹ và năm 2014 là 19,9 tỉ đô la Mỹ. Còn trong báo cáo tổng hợp về tình hình bảo lãnh của Chính phủ công bố vào thời điểm cuối năm ngoái thì tính đến ngày 31-12-2015, số nợ thực tế được Chính phủ bảo lãnh là khoảng 21 tỉ đô la Mỹ (bao gồm cả nợ được bảo lãnh để tái cơ cấu Tổng công ty Công nghiệp tàu thủy Việt Nam - SBIC). Con số bảo lãnh này chiếm khoảng 17,8% tổng dư nợ công và bằng 11,1% GDP năm 2015. Như vậy là từ năm 2010 đến hết năm 2015, các khoản vay được Chính phủ bảo lãnh đã tăng 1,76 lần, cho thấy nhu cầu vay vốn đầu tư tăng nhanh trong sáu năm qua.

Về cơ cấu các khoản vay cho từng lĩnh vực, vốn bảo lãnh chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực quan trọng như ngành điện, dầu khí, khoáng sản, hàng không, xi măng.

Cụ thể, tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) có số vay được Chính phủ bảo lãnh nhiều nhất, tại thời điểm cuối năm 2015 đã lên tới 9,7 tỉ đô la Mỹ, tương đương 46% tổng số nợ được Chính phủ bảo lãnh. Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (Petro Vietnam) cũng được Chính phủ bảo lãnh vay 2,4 tỉ đô la Mỹ, tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam được bảo lãnh vay 647 triệu đô la Mỹ, các công ty khác được bảo lãnh vay 2,7 tỉ đô la Mỹ.

Tinh thần xuyên suốt trong các nghị định, thông tư liên quan đến đầu tư công, quản lý vốn ODA, nợ bảo lãnh... được ban hành gần đây là tất cả khoản vay phải được đặt trong tổng thể kế hoạch vay và trả nợ trung hạn của Chính phủ.

Đối với ngành hàng không, Bộ Tài chính cho biết năm 2015, chương trình phát triển đội máy bay, cụ thể là máy bay tầm trung A321 và đường dài Boeing 787-9 của Vietnam Airlines tiếp tục được thực hiện theo kế hoạch và vốn vay được Chính phủ bảo lãnh. Tuy nhiên, hãng hàng không này đã cổ phần hóa nên sẽ dần điều chỉnh chính sách vay vốn giảm dần sự hỗ trợ của Nhà nước.

Ngoài phần bảo lãnh vay cho các tập đoàn kinh tế nhà nước, doanh nghiệp nhà nước lớn thì Chính phủ cũng bảo lãnh cho trái phiếu phát hành bởi Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) và Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) với dư nợ đến cuối năm 2015 lần lượt là 127.652 tỉ đồng và 33.866 tỉ đồng. Phần lớn trái phiếu phát hành bởi hai ngân hàng này sẽ phải dùng để trả nợ gốc, lãi đến hạn.

Cụ thể, năm 2015, VDB đã phát hành 32.994 tỉ đồng và NHCSXH phát hành 14.949 tỉ đồng để trả nợ gốc và lãi đến hạn khoảng 60.906 tỉ đồng. Còn trong năm 2016, theo Quyết định số 1011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ thì tổng hạn mức bảo lãnh trong năm này sẽ là hơn 72.000 tỉ đồng, trong đó VDB được phát hành 23.000 tỉ đồng trái phiếu nhưng dùng tới 22.840 tỉ đồng để trả nợ; NHCSXH được phát hành 13.000 tỉ đồng, trả nợ 7.730 tỉ đồng.

Một số quy định mới

Trước áp lực nợ công ngày một tăng dần (hiện đang rất sát mức trần Quốc hội cho phép là 65% GDP), Chính phủ đang đứng trước bài toán phải cơ cấu lại các khoản nợ công, trong đó nợ do Chính phủ bảo lãnh là một cấu thành tuy chiếm tỷ lệ nhỏ nhưng cơ chế quản lý còn nhiều lỏng lẻo. Theo Quyết định số 908 của Thủ tướng Chính phủ về chiến lược nợ công thì nợ Chính phủ bảo lãnh đến cuối năm 2020 là không quá 12% (hiện tỷ lệ này đang khoảng 10%).

Với tinh thần đó, ngày 16-1-2017, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 04/2017/NĐ-CP về cấp và quản lý bảo lãnh chính phủ. Nghị định này có hiệu lực từ ngày 1-3-2017 với một số điểm đáng lưu ý như: mức bảo lãnh chính phủ theo quy định mới đã giảm từ 80% tổng mức đầu tư của chương trình, dự án xuống còn không vượt quá 70%, tùy theo cấp độ quan trọng của dự án; giá trị tài sản thế chấp được quy định rõ với mức tối thiểu bằng 120% trị giá gốc của khoản vay, khoản phát hành trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh; mức phí bảo lãnh tối thiểu tăng từ 1,5%/năm trên số dư nợ được bảo lãnh lên 2%/năm, đồng thời bổ sung thêm hệ số năng lực tài chính của doanh nghiệp vào yếu tố tính phí bảo lãnh...

Việc áp dụng các quy định mới trên được cho là sẽ khắc phục một số tồn tại, bất cập trong cấp và quản lý bảo lãnh chính phủ hiện nay như: vai trò của cơ quan chủ quản trong quy trình thẩm định, cấp bảo lãnh còn mờ nhạt, chưa rõ ràng, nhất là vai trò chủ quản của các bộ đối với các doanh nghiệp nhà nước; tăng cường các công cụ giám sát, quản lý rủi ro đối với cấp bảo lãnh chính phủ...

Có thể thấy tinh thần xuyên suốt trong các nghị định, thông tư liên quan đến đầu tư công, quản lý vốn ODA, nợ bảo lãnh... được ban hành gần đây là tất cả khoản vay phải được đặt trong tổng thể kế hoạch vay và trả nợ trung hạn của Chính phủ. Dựa vào đó, Chính phủ sẽ có kế hoạch phân bổ và sử dụng vốn cho từng năm sao cho không phá vỡ các ràng buộc tổng thể chung, điển hình nhất là tỷ lệ nợ công/GDP; đồng thời tránh hiện tượng xé rào đầu tư công khi chưa bố trí được nguồn vốn cũng như dần xóa bỏ cơ chế xin - cho, tăng trách nhiệm và nghĩa vụ của người đi vay (chủ yếu là các tập đoàn kinh tế nhà nước, doanh nghiệp nhà nước).

Mời xem thêm

Đề nghị Chính phủ điều chỉnh chính sách bảo lãnh các tập đoàn

Gánh nặng bảo lãnh nợ vay

Chia sẻ:
   
CÙNG CHUYÊN MỤC
>>Xem thêm chuyên mục khác:
© 2012 - 2015 Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online.