Homepage E-Paper 18/11/2017
Từ Nghị định 04 đến sửa Luật Quản lý nợ công
Thứ Sáu,  10/3/2017, 08:19 (GMT+7)

Từ Nghị định 04 đến sửa Luật Quản lý nợ công

Mỹ Lệ

(TBKTSG) - LTS: Những thay đổi trong các quy định về cấp và quản lý bảo lãnh chính phủ mới đây (Nghị định 04/2017/NĐ-CP) và những thay đổi liên quan đến việc này trong dự thảo Luật Quản lý nợ công (sửa đổi) có giúp được gì nhiều cho mục tiêu quản lý nợ công nước ta bền vững, an toàn, hiệu quả? Quá trình này cần được thúc đẩy tiếp tục như thế nào? TBKTSG ghi nhận ý kiến của các chuyên gia kinh tế - tài chính.

TS. Vũ Sỹ Cường: Những điều cần lường trước và chuẩn bị

Nghị định số 04/2017/NĐ-CP về cấp và quản lý bảo lãnh chính phủ thay thế Nghị định 15/2011 vừa có hiệu lực thi hành từ ngày 1-3-2017 đã quy định rõ hơn về trách nhiệm của các bên liên quan đối với dự án được Chính phủ cấp bảo lãnh.

Nghị định số 15/2011/NĐ-CP chưa có cơ chế giám sát, chưa có chế tài xử lý vi phạm; vai trò của cơ quan chủ quản, cơ quan liên quan còn mờ nhạt, đặc biệt là cơ quan chủ quản doanh nghiệp nhà nước (DNNN). Do vậy, việc thẩm định dự án được Chính phủ bảo lãnh phần lớn dựa trên giải trình của chủ dự án, không có trách nhiệm của các bộ, ngành liên quan như Bộ Xây dựng trong dự án xi măng, Bộ Công Thương trong dự án điện, sự phù hợp của dự án trong quy hoạch phát triển...

Nghị định mới 04/2017/NĐ-CP yêu cầu các bộ, ngành phải tham gia nhiều hơn, khi dự án rủi ro, sẽ quy lại ý kiến tham gia của các bộ, ngành và có trách nhiệm giải trình với Chính phủ. Các bộ không có nghĩa vụ trả nợ thay vì không có ngân sách, nhưng phải có trách nhiệm tham gia góp ý kiến về mặt chuyên môn và chịu trách nhiệm giải trình về ý kiến của mình nếu dự án gặp rủi ro.

Song song đó, dự thảo Luật Quản lý nợ công (sửa đổi) - gọi tắt là dự thảo luật - đã có một số điều chỉnh, bổ sung để khắc phục những tồn tại, hạn chế sau sáu năm thi hành luật hiện nay.

Theo dự thảo luật thì nợ được bảo lãnh của Chính phủ được tính vào nợ công, vì khi doanh nghiệp được bảo lãnh không trả được nợ thì Chính phủ cũng phải can thiệp, lúc đó nghĩa vụ nợ dự phòng trở thành nghĩa vụ nợ trực tiếp.

Cũng giống như tất cả hoạt động bảo lãnh khác, bảo lãnh của Chính phủ sẽ phải giải quyết các vấn đề sau:
Thứ nhất là vấn đề thông tin bất đối xứng. Ngay cả khi yêu cầu các bộ, ngành liên quan cho ý kiến thì cũng rất khó đảm bảo là mọi thông tin về dự án đầu tư là đầy đủ và chính xác. Hơn nữa, thông tin bất đối xứng nằm ở chỗ làm thế nào để nguồn vốn cho vay đến được các doanh nghiệp làm ăn tốt, chứ không phải các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ nhận được vốn nhờ vào lợi thế là DNNN hay dựa vào cơ chế “xin - cho” mang nặng tính chủ quan.

Thứ hai, theo tinh thần tại Nghị quyết số 07/NQ-TW của Bộ Chính trị, dự thảo luật đã quy định một số điều kiện chặt chẽ hơn đối với việc cấp bảo lãnh chính phủ cho từng nhóm đối tượng; quy định chặt chẽ về điều kiện đối với người vay được bảo lãnh, về dự án, chương trình, về khả năng trả nợ và tính khả thi của dự án hoặc chương trình tín dụng.

Tuy nhiên, việc cho ý kiến của các bộ, ngành cũng sẽ gặp thách thức khi yêu cầu cán bộ công chức cho ý kiến về các dự án đầu tư cho sản xuất kinh doanh - một vấn đề phức tạp mà không phải là lĩnh vực chuyên môn của họ. Vì vậy, cần xem xét cơ chế góp ý kiến của chuyên gia độc lập trong lĩnh vực liên quan.
Thứ ba, hiện nay, do thiếu các thông tin đánh giá, xếp hạng doanh nghiệp nên cũng sẽ tạo ra những khó khăn nhất định cho việc thẩm định doanh nghiệp hay dự án được bảo lãnh. Đây là vấn đề cần phải có giải pháp khắc phục.

Cuối cùng, bảo lãnh cho các dự án của doanh nghiệp thường được giải thích là vì ngoài mục tiêu kinh tế, các doanh nghiệp còn có nhiệm vụ chính trị - xã hội. Trên thực tế không phải khi nào cũng có thể phân biệt giữa tiêu chí kinh tế với tiêu chí chính trị - xã hội trong một dự án đầu tư của doanh nghiệp. Do vậy, trong hướng dẫn về bảo lãnh cần cụ thể hóa những tiêu chí này.

TS. Phạm Thế Anh: Chú trọng quy định về trách nhiệm và chế tài ở khâu thực thi

Liên quan đến việc cấp bảo lãnh chính phủ, nếu so sánh giữa Luật Quản lý nợ công 2009 và dự thảo Luật Quản lý nợ công (sửa đổi) hiện nay (dự thảo luật) chúng ta có thể thấy một số điểm đáng chú ý sau.
Thứ nhất, về đối tượng và diện được bảo lãnh, dự thảo luật loại bỏ các tổ chức tài chính tín dụng ra khỏi đối tượng được bảo lãnh; loại bỏ các dự án sử dụng vốn vay hỗn hợp ODA và vay thương mại khỏi diện các dự án được xét cấp bảo lãnh.

Như vậy có thể hiểu, đối tượng được bảo lãnh sẽ bao gồm Ngân hàng Chính sách xã hội và các DNNN. Còn đối với diện được bảo lãnh, bên cạnh các chương trình/dự án đầu tư công của Nhà nước hoặc có mục tiêu xã hội thì các dự án không sử dụng vốn ngân sách nhà nước có tổng giá trị vay hoặc phát hành trái phiếu đề nghị cấp bảo lãnh chính phủ từ 300 triệu đô la Mỹ trở lên cũng thuộc diện được bảo lãnh. Tức là, dự thảo luật không loại bỏ các dự án có mục đích sản xuất kinh doanh thương mại thuần túy của các DNNN. Điều này có thể dẫn đến việc DNNN tiếp tục được ưu đãi hơn trong việc tiếp cận nguồn vốn ngay cả khi họ thực hiện các dự án có mục đích sản xuất kinh doanh thương mại thuần túy. Việc mở rộng và đẩy nhanh quá trình cổ phần hóa DNNN có thể giúp giảm diện được bảo lãnh.

Thứ hai, dự thảo luật đưa ra hạn mức bảo lãnh phải nằm trong kế hoạch vay trả nợ công trung hạn (năm năm) của Chính phủ. Đồng thời, quy mô gia tăng dư nợ bảo lãnh chính phủ phải không vượt quá tốc độ tăng trưởng kinh tế để đảm bảo an toàn, bền vững nợ công và an ninh tài chính quốc gia. Tuy nhiên, điều kiện này là tương đối lỏng, không có ý nghĩa nhiều bởi nợ bảo lãnh chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong nợ công phát sinh hàng năm. Để đảm bảo an toàn nợ công, một hạn mức tương tự cần áp dụng cả với quy mô nợ Chính phủ.

Thứ ba, dự thảo luật này đưa ra một số điều kiện cho vay chặt chẽ hơn. Điều đáng nói là Luật Quản lý nợ công năm 2009 cũng có các điều khoản chặt chẽ tương tự, tuy nhiên hiệu lực thực thi lại rất kém. Thực tế nhiều năm qua cho thấy, có nhiều đối tượng (DNNN) không đủ điều kiện được bảo lãnh nhưng khi mất khả năng thanh toán lại được Chính phủ đứng ra trả nợ hoặc bảo lãnh trả nợ thay, góp phần làm gia tăng nợ công và đe dọa an ninh tài chính quốc gia. Như vậy, bên cạnh việc đưa ra các điều kiện được bảo lãnh, việc đảm bảo các điều kiện bảo lãnh được thực thi nghiêm trong thực tế là rất cần thiết; cần phải loại bỏ các trường hợp ngoại lệ; và cơ quan lập pháp cần tuyệt đối tránh phê duyệt cho các trường hợp ngoại lệ.

Cuối cùng, dự thảo luật bổ sung quy định về trách nhiệm của người được bảo lãnh (trách nhiệm của người bảo lãnh, hay Bộ Tài chính, không có gì khác biệt so với Luật quản lý nợ công năm 2009, vẫn bao gồm việc thẩm định, tham gia đàm phán, giám sát hoạt động, thanh toán...). Cụ thể, điều khoản được bổ sung là người được bảo lãnh phải chịu trách nhiệm về tính đúng đắn, chính xác của các số liệu, tài liệu cho cơ quan cấp bảo lãnh để xem xét, trình duyệt chủ trương cấp bảo lãnh chính phủ. Điều khoản này sẽ hạn chế được gian dối trong việc cung cấp thông tin để thỏa mãn điều kiện được bảo lãnh. Tuy nhiên, điều khoản tương tự cũng cần phải được áp dụng cho người cấp bảo lãnh, hoặc ít nhất là người cấp bảo lãnh phải dựa vào thẩm định của một bên thứ ba (ví dụ như của tổ chức kiểm toán độc lập) nhằm đảm bảo chỉ có những đối tượng thực sự thỏa mãn điều kiện bảo lãnh mới được cấp bảo lãnh.

Nên đổi tên dự thảo luật

So với Luật Quản lý nợ công 2009 thì dự thảo sửa đổi luật này không có nhiều điểm mới. Tuy nhiên, có một điều nên sửa là thay tên gọi của luật từ quản lý nợ công sang quản lý nợ chính phủ, vì ở đây chỉ bàn nợ chính phủ.

Trên cơ sở của Hệ thống tài khoản quốc gia SNA 2008, hiện nay Tổng cục Thống kê đã đưa ra ý niệm kinh tế nhà nước, thực chất là khu vực công của SNA, bao gồm chính phủ trung ương, chính quyền địa phương, các cơ quan nhà nước, các cơ quan đảng, dân sự do nhà nước tài trở và doanh nghiệp nhà nước.

Tổng cục Thống kê cũng có thống kê về GDP, đầu tư từ khu vực kinh tế nhà nước này, vậy thì tại sao lại không thống kê nợ của khu vực này (bao gồm nợ vay ngân hàng, nợ qua bán trái phiếu, nợ nước ngoài...). Thống kê minh bạch sẽ giúp cho việc điều hành kinh tế tốt hơn và điều chỉnh khu vực kinh tế nhà nước dễ dàng hơn.

Vũ Quang Việt

 

Chia sẻ:
   
CÙNG CHUYÊN MỤC
>>Xem thêm chuyên mục khác:
© 2012 - 2015 Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online.