Homepage E-Paper 24/05/2017
Thước đo nào cho quy định về xe công vụ?
Thứ Năm,  16/3/2017, 14:17 (GMT+7)

Thước đo nào cho quy định về xe công vụ?

TS. Nguyễn Sỹ Phương (*)

Tiêu chuẩn, định mức trong lĩnh vực công, như ở các nước tiên tiến, do luật điều chỉnh, chứ không thể theo mệnh lệnh hành chính các cấp, vốn phụ thuộc vào động cơ, nhận thức, năng lực hành xử cá nhân họ. Trong ảnh: Ô tô trưng bày tại một cuộc triển lãm. Ảnh: THÀNH HOA

(TBKTSG) - Bộ Tài chính vừa có Công văn số 2399/BTC-QLCS gửi các bộ ngành, UBND các tỉnh, thành phố và các tập đoàn kinh tế do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập để xin ý kiến góp ý vào dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ quy định tiêu chuẩn, định mức và chế độ quản lý, sử dụng ô tô trong cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước.

Cần thiết phải có quy định về chuyện này

Tên gọi của dự thảo quyết định này đã thể hiện được “điều kiện cần” nó phải ra đời, bởi cả nguyên lý lẫn thực tế từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây cho thấy không một đơn vị, nền kinh tế nào không hạch toán thu chi theo tiêu chuẩn, định mức, mà vẫn phát triển như có tiêu chuẩn, định mức cả.

Tiêu chuẩn, định mức trong lĩnh vực công, như ở các nước tiên tiến, lại do luật điều chỉnh, chứ không thể theo mệnh lệnh hành chính các cấp, vốn phụ thuộc vào động cơ, nhận thức, năng lực hành xử cá nhân họ.

Vì vậy, dự thảo quyết định này trước hết cần được nhìn nhận dưới góc độ nghiệp vụ, quy trình ban hành văn bản pháp lý. Về nguyên lý, đó là nấc đầu tiên, tức đề xuất, nên phải kèm tờ trình (giải thích lý do, cơ sở lý luận, thực tế...), nếu không sẽ khó cho các công đoạn tiếp theo (xin ý kiến, thông qua các cấp).

Như ở Đức, tờ trình thường bao gồm các điểm phải nêu được: (1) Vấn đề đang nảy sinh mà các văn bản pháp lý hiện hành không thể giải quyết được (tức lý do) và mục đích đạt tới; (2) Các phương án lựa chọn; (3) Phương án dự phòng (lựa chọn khác); (4) Hạch toán thu, chi ngân sách khi thực thi; (5) Hạch toán phí tổn người dân gánh khi thực hiện; (6) Hạch toán chi phí nền kinh tế phải chịu; (7) Hạch toán chi phí hành chính (nhân sự, tiền, vật chất); (8) Hạch toán các chi phí khác. Điểm 4 đến điểm 7 nhằm xác định tính khả thi cũng như hiệu quả kinh tế.

Về thời gian góp ý cho dự thảo, đòi hỏi phải đủ cho họ cân nhắc. Ở Đức, quá trình này thậm chí kéo dài hàng năm nếu có bất đồng quan điểm. Trong khi đó, với dự thảo quyết định này, Bộ Tài chính đưa ra thời hạn góp ý là trước ngày 15-3-2017, tức chỉ một tuần sau khi công bố trên trang web của bộ và chỉ hai tuần sau khi gửi dự thảo cho đối tượng liên quan góp ý, nên rất dễ rơi vào hình thức.

Về nội dung, tức “điều kiện đủ” để đạt mục đích đặt ra, dự thảo cơ bản đề cập tới ba đối tượng được điều chỉnh theo quy phạm dành cho từng đối tượng:

Luật BBEzG về tiêu chuẩn được hưởng của Áo quy định một số cán bộ công chức được quyền sử dụng xe công vụ như dự thảo quyết định hiện nay của Bộ Tài chính, nhưng mỗi tháng họ phải trả cho nhà nước phí tổn cho phần kết hợp phục vụ mục đích cá nhân.

Thứ nhất, xe phục vụ công tác của các chức danh lãnh đạo (xe công vụ). Thứ hạng và tính chất sử dụng được phân biệt ba cấp: (1) Chức danh được sử dụng thường xuyên một ô tô, kể cả sau khi đã nghỉ công tác dành cho người đứng đầu đảng và chính quyền trung ương (điều 3); (2) Chức danh được sử dụng thường xuyên một ô tô trong thời gian công tác dành cho cán bộ cao cấp trung ương và đứng đầu cấp tỉnh thành, có hệ số lương 10,4 trở lên (điều 4); (3) Chức danh được xe đưa đón tới nơi làm việc, đi công tác dành cho cấp tiếp theo, có hệ số phụ cấp chức vụ từ 1,25 trở lên (điều 6).

Thứ hai, ô tô phục vụ công tác chung, được thực hiện theo các phương án lựa chọn: (1) Khoán kinh phí sử dụng ô tô; (2) Thuê dịch vụ ô tô; (3) Trang bị ô tô.
Thứ ba là về xe chuyên dụng.

Theo hệ quy chiếu nào?

Nếu lấy nguyên lý kinh điển của nền kinh tế quản lý tập trung nhằm hoàn thành kế hoạch nhà nước làm hệ quy chiếu thì bản chất các quy phạm trên hoàn toàn đúng. Nhà nước có chức năng quản lý trực tiếp kinh tế và xã hội cả ngang lẫn dọc theo kế hoạch từ trên xuống được coi là “pháp lệnh”, thì các cơ quan nhà nước phải được bảo đảm điều kiện nhân, tài, vật lực tương ứng để phục vụ nhà nước. Thời bao cấp, cơ quan nhà nước còn phải bảo đảm tiêu chuẩn nhà ở tập thể cho cán bộ công chức của mình, họ được phân phối tới bánh xà phòng, gói mì chính... tùy cấp bậc.

Còn nếu lấy nguyên lý nền kinh tế thị trường đúng nghĩa làm hệ quy chiếu thì các quy phạm trên cần tham chiếu luật tương đương của các nước tiên tiến được xây dựng trên nền tảng thước đo đó.

Nền kinh tế thị trường của họ coi bất kỳ cán bộ công chức nào, từ nguyên thủ quốc gia... tới lao công phụ việc văn phòng... đều là lao động hưởng lương. Mối quan hệ giữa nhà nước với cán bộ công chức là quan hệ giữa chủ thuê việc với người nhận việc. Mọi tiêu chuẩn được hưởng của cán bộ công chức thuộc lợi ích họ, cao thì họ lợi - nhà nước thiệt và ngược lại, thấp thì họ thiệt nhà nước lợi. Nó hoàn toàn không mang nghĩa phục vụ nhà nước như trong nền kinh tế quản lý tập trung (khái niệm người dân “làm chủ”, cán bộ công chức nhà nước là “công bộc” ở họ trước hết được hiểu theo nghĩa người dân đóng thuế để trả lương cho cán bộ công chức). Chỉ ngoại trừ những việc liên quan tới bộ mặt quốc gia thì mặc dù người đứng đầu nhà nước sử dụng nhưng vẫn được coi là chi cho quốc gia, như chuyên cơ Air Force One Boeing 747-200B dành cho Tổng thống Mỹ chẳng hạn.

Nói cách khác, tiêu chuẩn được hưởng của mọi cán bộ công chức là kết quả mối quan hệ lợi ích giữa nhà nước và bộ máy thực thi nó, phải bảo đảm công bằng, minh bạch bởi các quy phạm pháp luật. Nếu không, sẽ tạo ra bất công về thu nhập ngay trong bộ máy nhà nước, gây bất ổn nó, mất cân bằng ngân sách, tạo nên bất công giữa người dân đóng thuế với đội ngũ cán bộ công chức hưởng lợi, có thể gây bất ổn cơ thể xã hội.

Dựa trên nguyên lý coi nhân sự bộ máy nhà nước thuộc lao động hưởng lương, luật về tiêu chuẩn được hưởng của các chức danh lãnh đạo cao cấp như ở Áo, mang tên BBEzG, quy định rõ nhất: Lãnh đạo bậc cao cấp nhất, tổng thống, chính phủ, quốc vụ khanh, tổng thanh tra, nghị sĩ, trọng tài quốc gia... năm 2017 này được trả lương cơ bản 7.418,62 euro/tháng, nhân với hệ số ngạch bậc lương (như ta), cao nhất 280%, thấp nhất 50%. Họ được quyền sử dụng xe công vụ như điều 3, điều 4 của dự thảo quyết định nói trên của Bộ Tài chính ta, nhưng mỗi tháng phải trả nhà nước phí tổn cho phần kết hợp phục vụ mục đích cá nhân, được tính đổ đồng ở mức 1,5% trị giá xe (khi mua), tối đa không quá 7% lương cơ bản (ở Đức, ngay cả xe thuộc tài sản doanh nghiệp, nếu chủ không có xe cá nhân riêng, xe doanh nghiệp sẽ bị tính trị giá chủ doanh nghiệp tự sử dụng ở mức 1% trị giá xe nhân 12 tháng, rồi cộng vào lãi hàng năm của chủ thành tổng thu nhập để đánh thuế).

Cách tính phí tổn trên sẽ buộc cán bộ công chức của họ phải tự hạch toán nên dùng xe riêng hay xe công vụ, không thể lạm dụng ngân sách nhà nước do tiền thuế của dân chi trả. Thực tế hầu hết họ đều đi xe riêng, kể cả thủ tướng. Họ chỉ đi xe công vụ khi luật bắt buộc công vụ đó phải sử dụng xe công vụ.
Trong khi đó, mặc dù điều 2 dự thảo quyết định nói trên của Bộ Tài chính quy định “Nghiêm cấm việc sử dụng ô tô quy định tại quyết định này vào việc riêng”, nhưng nội dung sau đó lại để họ toàn quyền sử dụng như xe riêng, thậm chí cả khi nghỉ hưu, mà không hề tính phần phục vụ cho mục đích cá nhân của chức danh lãnh đạo đó.

Không chỉ xe công vụ, luật BBEzG còn quy định: Tất cả các khoản chi phục vụ công tác, như đi lại ăn ở, cần vụ, được nhà nước trả toàn bộ nhưng khống chế không quá 12% của 98,96% lương cơ bản. Nếu phải sống xa nhà được hưởng thêm 6% của 98,96% lương cơ bản. Còn nếu chi vượt quá phải tự trả, không thể “làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu được”, cho dù có tài năng, đức độ, hết lòng vì dân vì nước tới mấy.

(*) CHLB Đức

Chia sẻ:
   
CÙNG CHUYÊN MỤC
>>Xem thêm chuyên mục khác:
© 2012 - 2015 Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online.