Homepage E-Paper 30/05/2017
Bài toán khó cho xuất khẩu thực phẩm Việt Nam sang Mỹ
Thứ Tư,  19/4/2017, 11:33 (GMT+7)

Bài toán khó cho xuất khẩu thực phẩm Việt Nam sang Mỹ

Tuấn Trần (*)

(TBKTSG) - “Cảnh báo nhập khẩu” của Cục Quản trị thực phẩm và dược phẩm Mỹ (FDA) với thực phẩm Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ, qua xem xét số liệu, có xu hướng gia tăng trong thời gian tới. Làm thế nào để đánh giá tác động của Đạo luật Hiện đại hóa an toàn thực phẩm của Mỹ (FSMA) đối với xuất khẩu thực phẩm của Việt Nam để có kế hoạch đối phó phù hợp?

Chuyến công tác trong tháng 3 tại Mỹ của Hội Doanh nghiệp hàng Việt Nam chất lượng cao, Phòng Thương mại công nghiệp Mỹ (AmCham), gặp FDA và các bộ chức năng liên quan của Mỹ về FSMA đã gợi ra một vài ý tưởng khởi đầu cho các chương trình tháo gỡ khó khăn và tạo điều kiện thuận lợi thương mại hướng xuất khẩu trong thời gian tới...

Cảnh báo nhập khẩu - câu chuyện của ai?

Dấu hiệu cảnh báo nhập khẩu sau khi ban hành đạo luật FSMA thực tế bắt đầu từ những năm 2012 khi báo chí đăng tin một số chuyến hàng xuất khẩu thanh long Bình Thuận vào Mỹ bị FDA giữ lại tại cảng để kiểm tra dư lượng thuốc bảo vệ thực vật thậm chí có lúc cơ quan chức năng Mỹ nâng tần suất kiểm tra, lấy mẫu thanh long Việt Nam lên 100% mặc dù sản phẩm đã được cấp phép xuất khẩu và trải qua công đoạn chiếu xạ để kiểm tra an toàn dịch bệnh. Nhưng phải chăng đến giờ không ai rõ về nội dung và tác động của FSMA? Thực tế thì có doanh nghiệp phải tạm dừng xuất khẩu vì không rõ quy định mới về an toàn thực phẩm (ATTP) của Mỹ. Tiếp đến là câu chuyện 95 container (trên 1.700 tấn) gạo của Việt Nam bị trả về vào khoảng đầu năm 2016 do các chỉ số dư lượng thuốc bảo vệ thực vật vượt quá quy định của FDA. Thông tin Mỹ từ chối nhập khẩu hàng hóa từ Việt Nam ngày càng nhiều hơn do thực phẩm không đạt tiêu chuẩn ATTP, do vi phạm quy định nhãn và các quy định nhập khẩu mới từ Mỹ đang là lời cảnh báo liên tục đối với các doanh nghiệp xuất khẩu thực phẩm của Việt Nam. Sau khi gặp các cơ quan hữu quan Mỹ, chúng tôi rõ hơn về FSMA. Thử dành ít thời gian truy cập vào trang web của FDA, ta dễ dàng tìm được danh sách các doanh nghiệp Việt Nam bị “cảnh báo nhập khẩu” với tên nhà cung ứng Việt Nam lẫn đối tác nhập khẩu tương ứng: https://www.accessdata.fda.gov/cms_ia/country_VN.html.

Điều khác lạ là sau nhiều cảnh báo công khai như thế, chưa thấy các doanh nghiệp bàn việc tháo gỡ và khắc phục, thậm chí một số doanh nghiệp còn muốn “giấu giếm” tên tuổi của mình? Cũng chưa thấy thông tin rõ ràng là cơ quan nào của Nhà nước đứng ra chịu trách nhiệm nghiên cứu, đánh giá mức độ ảnh hưởng và hỗ trợ, hướng dẫn cách tháo gỡ khó khăn này cũng như lên chiến lược và sách lược để ứng phó thương mại phù hợp “Trade Compliance” với những rào cản kỹ thuật mới ngày càng phổ biến hơn của các quốc gia phát triển như Mỹ, Canada, châu Âu, Úc... Các cơ quan quản lý của ta đang chỉ dừng lại ở việc đàm phán ký kết các hiệp định thương mại quốc tế. Phải thấy, đây không chỉ là câu chuyện của các doanh nghiệp xuất khẩu mà là vấn đề vướng mắc lớn của ngành thương mại xuất khẩu Việt Nam trong xu thế hội nhập quốc tế. Nếu tiếp tục lơ là và không có biện pháp giải quyết rốt ráo, có thể thấy trước hậu quả của các ngành thực phẩm, trái cây, thủy hải sản, sản phẩm sơ chế và chế biến xuất khẩu của Việt Nam sắp tới...

FSMA ra đời trong bối cảnh như thế nào?

Đạo luật FSMA được ban hành ngày 4-1-2011, trong bối cảnh người tiêu dùng Mỹ có nhu cầu và ưa chuộng thực phẩm ăn kiêng và thực phẩm tươi hơn nhưng thị trường lại rất quan ngại về chất lượng thực phẩm nhập khẩu gây ra nhiều bệnh và tử vong cho người Mỹ do thực phẩm bị nhiễm và chứa nhiều mầm bệnh. Do thiếu hụt về sản xuất, hàng tiêu dùng nhập khẩu đang gia tăng nhanh (trung bình 8%/năm) so với nhập khẩu hàng xá (chỉ tăng 2%) cũng như nhập khẩu các sản phẩm trung gian khác. Mỗi năm Mỹ nhập khẩu thực phẩm từ các quốc gia đang phát triển chiếm tỷ lệ hơn 54% nhu cầu thực phẩm nhập khẩu. Hơn nữa, nhu cầu nhập khẩu thực phẩm cho thị trường hơn 320 triệu dân Mỹ chiếm tỷ trọng lên đến 15%, trong đó tới 75% cho thủy hải sản và 60% sản phẩm tươi khác như trái cây, rau quả... Nhu cầu lớn, nguy cơ cao về ATTP đặt ra nhiều thách thức cho FDA với mục tiêu bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng.

Như vậy, chính sự thay đổi hành vi và phương thức tiêu dùng, sự bùng phát của bệnh tật từ thực phẩm cùng với sự phát triển của khoa học thực phẩm kể cả tiêu chuẩn và phương thức kiểm định thực phẩm đã thúc đẩy Mỹ cho ra đời FSMA, rồi sau đó, Canada, Úc, châu Âu đang tiếp tục phát triển luật giống như FSMA của Mỹ. FSMA có hiệu lực áp dụng đầy đủ vào tháng 6-2016. Các quốc gia phát triển càng ngày giám sát và kiểm tra chặt chẽ hơn về vấn đề ATTP bằng cách liên tục tạo ra hàng rào kỹ thuật về chất lượng. Chính điều này đã tác động lớn đến hoạt động xuất khẩu của các nước, trong đó có Việt Nam.

Hệ thống ATTP mới theo FSMA tiếp cận việc giải quyết vấn đề ATTP thông qua phòng ngừa mọi rủi ro liên quan đến ATTP trong suốt quá trình sản xuất, cung cấp nguyên liệu, chế biến, dán nhãn, đóng gói, vận chuyển và đưa ra sản phẩm ra thị trường chứ không thuần túy kiểm tra sản phẩm cuối cùng đến cảng của Mỹ như trước đây. Luật mới phân bổ áp lực cho tất cả thành tố trên toàn chuỗi: các nhà bán lẻ của Mỹ, rồi đến nhà phân phối, nhà nhập khẩu và trách nhiệm được chuyển về nhà sản xuất đầu vào, chế biến, đóng gói (gọi chung là nhà cung ứng). FSMA chia nhỏ trách nhiệm giám sát và kiểm tra từ nông trại đến bàn ăn để phòng ngừa các mối nguy hại đến sức khỏe người tiêu dùng, trong đó đối tượng nhà sản xuất (từ quốc gia xuất khẩu) hay chế biến chịu tác động lớn nhất.

Tác động của FSMA và ứng phó của doanh nghiệp xuất khẩu

Điều ngầm hiểu của luật FSMA là tiêu chuẩn ATTP Mỹ giờ đây áp dụng tương đương nhau cho cả hai loại, hàng hóa nội địa và hàng nhập khẩu. Nghĩa là nhà cung ứng Việt Nam muốn xuất khẩu vào Mỹ phải chịu sự quản lý và giám sát chất lượng như nhà cung ứng tại Mỹ. Cho dù là người trồng trọt, sản xuất, chế biến, đóng gói hay vận chuyển liên quan đến thực phẩm, họ đều cần phải đầu tư hệ thống sẵn sàng để xác định và quản lý các nguồn gốc rủi ro trong quy trình hoạt động thông qua bằng chứng dữ liệu ghi nhận và chứng nhận của bên thứ ba. Cách tiếp cận mới của FSMA rõ ràng tạo ra thách thức lớn cho cả nhà cung ứng Việt Nam và cả nhà nhập khẩu. Trước mắt đòi hỏi các nhà sản xuất, chế biến của các nước phải đầu tư lớn để xây dựng và quản lý chuỗi cung ứng định hướng sản xuất thực phẩm an toàn cho người tiêu dùng ngay từ cơ sở trong nước, sau đó đăng ký kế hoạch ATTP dưới sự giám sát và kiểm tra phòng ngừa rủi ro từ FDA, các cơ quan chức năng khác của Mỹ, từ các tổ chức giám sát bên thứ ba, từ chính các nhà nhập khẩu quốc tế phù hợp theo hệ thống HACCP. Nhà nhập khẩu Mỹ phải cung cấp kế hoạch kiểm tra nhà cung ứng dựa vào phòng ngừa rủi ro, đảm bảo sản phẩm và cơ sở sản xuất phải phù hợp theo tiêu chuẩn ATTP Mỹ để được cấp chứng nhận nhập khẩu từ Chính phủ Mỹ.

Theo quy định mới, thực phẩm muốn nhập khẩu vào Mỹ phải đăng ký mã số kinh doanh mới, nhà cung ứng phải lựa chọn nhà đại diện nhập khẩu tại Mỹ. Nhà nhập khẩu có nhiệm vụ tiến hành rà soát thường xuyên tình trạng tuân thủ của nhà cung ứng trước khi nhập khẩu thông qua các công cụ chế tài như Thư cảnh báo FDA (Warning Letter) khi một chuyến hàng vi phạm, Cảnh báo nhập khẩu của FDA (Import Alert) khi vi phạm liên tục nhiều chuyến hàng, yêu cầu chứng nhận nhập khẩu, xây dựng và đánh giá kế hoạch ATTP (FSVP) và giữ liên lạc thường xuyên với FDA... Doanh nghiệp nào muốn bán hàng cho các nhà bán lẻ Mỹ như hệ thống siêu thị ở Mỹ còn đòi hỏi tính chuyên nghiệp cao hơn khi cần tiếp cận sớm với phương pháp phân tích chuỗi giá trị (VCA) được các siêu thị Mỹ sử dụng phổ biến khi làm việc với nhà cung ứng. VCA giúp doanh nghiệp hiểu rõ xem liệu doanh nghiệp mình có đáp ứng được yêu cầu ATTP của Mỹ từ nhiều góc độ tiêu chuẩn ATTP, quy định dán nhãn và bán lẻ cho người tiêu dùng. Do chưa quen với VCA hiện đại và do thực tế là hệ thống sản xuất Việt Nam có quy mô nhỏ và mang tính phân mảng, nên thách thức này cũng sẽ cản trở các doanh nghiệp muốn bán hàng cho các siêu thị lớn của Mỹ.

Cuộc khảo sát “bỏ túi” của đoàn chúng tôi tại các siêu thị Mỹ trong tháng 3 vừa qua cho thấy chỉ có vài loại sản phẩm thực phẩm có nguồn gốc từ Việt Nam được bày bán trong siêu thị Mỹ, trong đó có các loại bột thực phẩm của Công ty Vĩnh Thuận, nước mắm mang thương hiệu Red Boat, tương ớt Sriracha (Việt kiều Mỹ), một sản phẩm Pho VN từ một người nước ngoài sống tại Thái Lan, còn lại chủ yếu là sản phẩm nhãn hàng riêng của nhà bán lẻ hay nhà cung ứng khác với nguyên liệu từ Việt Nam (như quế)...

Luật FSMA có tác động trực tiếp đến việc tăng giá bán sản phẩm và làm giảm bớt lựa chọn đa dạng về sản phẩm cho người tiêu dùng, đồng thời tăng tính tập trung cho doanh nghiệp lớn và làm giảm cạnh tranh do hạn chế nhiều nhà cung ứng có quy mô nhỏ và vừa tham gia thị trường. Trước mắt, doanh nghiệp khối tư nhân sẽ chịu ảnh hưởng nhiều nhất do yêu cầu đầu tư đổi mới hệ thống toàn diện. Mặt khác, việc đáp ứng tiêu chuẩn của FSMA chắc chắn mang đến lợi thế cạnh tranh và tạo khác biệt cho sản phẩm xuất khẩu. Tuy nhiên, với phương thức xuất khẩu phổ biến mang tính “ngẫu nhiên” và “tình cờ”dựa vào quan hệ với một số bạn bè như trước đây cộng với nguồn lực hạn chế, đây quả thật là bài toán khó giải cho các doanh nghiệp Việt Nam nếu không được hỗ trợ kịp thời.

Trước mắt đối diện với với tiêu chuẩn ATTP mới, nhà cung ứng Việt Nam sẽ có ba cách tiếp cận.

Cách 1, tạm lùi lại, bỏ qua thị trường “khó tính” như Mỹ để chuyển qua các thị trường xuất khẩu có tiêu chuẩn chất lượng thấp hơn như Trung Quốc hay các nước châu Á.

Cách 2, rút khỏi thị trường xuất khẩu để quay lại phục vụ thị trường trong nước, đành bỏ thị trường có thu nhập cao và hấp dẫn như Mỹ.

Cách 3, doanh nghiệp lớn hơn có thể theo đuổi tiếp tục thị trường Mỹ và chấp nhận đầu tư nâng cấp hệ thống, cơ sở sản xuất, chế biến để đáp ứng yêu cầu mới.

Về lâu dài, hiệu quả chiến lược xuất khẩu của Việt Nam sẽ phụ thuộc nhiều vào nguồn lực và cam kết đầu tư của các doanh nghiệp này cùng với sự hỗ trợ quan trọng từ phía chính phủ, nhằm chủ động ngăn chặn sự sụt giảm đáng kể về xuất khẩu do hàng rào kỹ thuật mới từ FSMA.

Nghiên cứu cách giải cứu doanh nghiệp xuất khẩu?

Hiện thời, việc nghiên cứu các cảnh báo nhập khẩu trực tiếp từ trang web của FDA để đánh giá thực trạng, rút bài học kinh nghiệm và tìm cách tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp xuất khẩu là rất cần thiết. Trước tiên, việc khảo sát sơ bộ cho thấy hai vi phạm phổ biến nhất là: không đạt tiêu chuẩn và vi phạm quy định về nhãn. Nhiều trường hợp nhãn hàng ghi thiếu thông tin hay thiết kế nhãn sai quy định thậm chí dịch sai... từ đó, có thể điều chỉnh lỗi truyền thông, cải thiện hình ảnh về chất lượng sản phẩm xuất khẩu từ Việt Nam.

Việc nghiên cứu “cảnh báo nhập khẩu” hiện được phân loại theo quốc gia, theo ngành, chủng loại sản phẩm, theo thời gian giúp dễ dàng tìm kiếm và nghiên cứu cụ thể lý do bị từ chối nhập khẩu. Từ đó, cũng đánh giá được mức độ ảnh hưởng của FSMA với các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam trong việc đáp ứng FSMA. Nội dung từ chối lại sẽ mang đến nhiều bài học kinh nghiệm thực tế từ đó dự báo tương lai để Nhà nước có thể ban hành các chính sách khắc phục và hỗ trợ doanh nghiệp kịp thời và hiệu quả hơn. Ai sẽ tập hợp, nghiên cứu và trao đổi chia sẻ cùng doanh nghiệp liên quan? Chính là các hiệp hội.

Các hiệp hội thay vì tổ chức và “tôn vinh” các danh hiệu chẳng liên quan nên tập trung nghiên cứu cùng các chuyên gia và doanh nghiệp, cùng với chính phủ hợp sức truyền thông, chia sẻ thông tin, bài học kinh nghiệm, bàn cách tháo gỡ khó khăn và thúc đẩy xuất khẩu, xây dựng các chương trình đào tạo chuyên sâu về hệ thống chất lượng nhằm đáp ứng tốt nhất yêu cầu chất lượng đổi mới khi hội nhập quốc tế.

(*)USIS Consulting

Chia sẻ:
   
CÙNG CHUYÊN MỤC
>>Xem thêm chuyên mục khác:
© 2012 - 2015 Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online.