Homepage E-Paper 20/09/2017
Góp vốn bằng uy tín, kiến thức và hoạt động kinh doanh: tại sao không?
Thứ Tư,  10/5/2017, 07:51 (GMT+7)

Góp vốn bằng uy tín, kiến thức và hoạt động kinh doanh: tại sao không?

Thạc sĩ Đào Thị Thu Hằng (*)

(TBKTSG) - Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nói “chưa bao giờ Chính phủ tạo nhiều cơ hội cho khởi nghiệp như lúc này”. Để tận dụng những cơ hội này, chúng ta cần phải tìm hiểu và khai thác triệt để mọi nguồn lực sẵn có để đưa vào sản xuất kinh doanh. Một trong những nguồn lực rất quan trọng tạo vốn trong kinh doanh là uy tín, kiến thức, hoạt động kinh doanh.

Ai cũng hiểu, vốn là điều kiện tiên quyết có ý nghĩa quyết định đến quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Để tiến hành bất cứ hoạt động sản xuất, kinh doanh nào từ sản xuất đến cung ứng dịch vụ, doanh nghiệp cũng cần phải có vốn. Về mặt kinh tế, vốn là phương tiện kinh doanh. Về mặt pháp lý, vốn được hiểu là phương tiện đảm bảo cho việc trả nợ(1).

Các hệ thống pháp luật của các quốc gia khác nhau có cách nhìn nhận và quy định khác nhau về tài sản được coi là vốn góp để thành lập doanh nghiệp. Phạm vi rộng, hẹp của những loại tài sản được coi là vốn góp vào thành lập doanh nghiệp có thể ảnh hưởng đến quyền tự do kinh doanh, hạn chế hay thúc đẩy việc khởi nghiệp của cá nhân, đặc biệt là những người trẻ trong xã hội.

Chẳng hạn ở Mỹ, tiền, tài sản, sức lao động hoặc kỹ năng có thể được góp vốn vào doanh nghiệp hợp danh(2). Campuchia thừa nhận tài sản dùng để góp vốn thành lập doanh nghiệp có thể là kiến thức hoặc hoạt động kinh doanh(3). Trong khi Lào quy định sức lao động hoặc thu nhập hình thành trong tương lai đều được xem là tài sản góp vốn vào doanh nghiệp hợp danh(4).

Để thấy rõ hơn vai trò của nó, chúng ta xem xét ví dụ sau của cá nhân A được đặt trong bối cảnh pháp luật các quốc gia khác nhau. Cá nhân A có “ý tưởng kinh doanh” tốt, mong muốn thành lập doanh nghiệp để khởi nghiệp nhưng anh ta lại không thể xoay sở để có tiền mặt hoặc tài sản dưới dạng vật chất khác. Việt Nam không thừa nhận “ý tưởng kinh doanh” hay “kiến thức về kinh doanh” của A là một loại tài sản góp vốn vào doanh nghiệp(5). Do đó A không thể trở thành chủ sở hữu của doanh nghiệp để thực hiện những ý tưởng kinh doanh của mình. Tuy nhiên, theo luật của Campuchia thì kiến thức hay ý tưởng kinh doanh được coi là một loại tài sản góp vốn vào doanh nghiệp. Tương tự, Lào xem sức lao động là một loại tài sản góp vốn vào doanh nghiệp. Do vậy, cá nhân A trong bối cảnh pháp luật Lào và Campuchia hoàn toàn có cơ hội thực hiện hoạt động kinh doanh của mình với tư cách là chủ.

Việt Nam nên quy định phạm vi tài sản góp vốn thành lập doanh nghiệp ở mức độ rộng hơn, bao gồm cả kiến thức, uy tín và hoạt động kinh doanh để tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các cá nhân có thể trực tiếp tham gia thành lập và quản lý doanh nghiệp của mình.

Tất nhiên để tạo lập doanh nghiệp ở bất cứ quốc gia nào cũng cần vốn là tiền mặt hoặc tài sản trị giá bằng tiền để chi trả các chi phí liên quan như thuê văn phòng, nhà xưởng, nhân viên... Do vậy, để thành lập doanh nghiệp của mình, A cần thuyết phục thêm một hoặc vài người bạn tham gia thành lập doanh nghiệp. Cách thức mà họ thực hiện tại Campuchia có thể diễn ra như sau: Giả sử A rủ được ba người bạn đồng ý mỗi người bỏ ra 10 triệu riel để góp vốn thực hiện ý tưởng kinh doanh của A. Họ thành lập một doanh nghiệp với số vốn đăng ký là 30 triệu riel do bốn người cùng sở hữu. Như vậy, mặc dù A không thực sự góp một đồng nào nhưng A vẫn có thể trở thành đồng chủ sở hữu doanh nghiệp này và sẽ là người điều hành trực tiếp thực hiện ý tưởng kinh doanh mà A đã tạo ra. Còn ba người bạn kia họ có thể vẫn thực hiện công việc hàng ngày của họ và được chia lợi nhuận nếu doanh nghiệp kinh doanh có lãi để chia - họ giống như những nhà đầu tư tài chính.

Lý thuyết quản trị hiện đại khẳng định rằng trong các nguồn lực mà doanh nghiệp có được, thì con người là nguồn lực quan trọng nhất. Nó quyết định hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Một đội ngũ nhân lực với kiến thức và kỹ năng kinh doanh sáng tạo độc đáo luôn là một lợi thế khác biệt không thể chối cãi đối với các doanh nghiệp. Bên cạnh đó, việc sử dụng nguồn lực là những ý tưởng sáng tạo, kỹ năng hay kiến thức... còn không bị tốn chi phí khấu hao tài sản. Ngược lại nếu chúng ta sử dụng bằng sáng chế hay bí quyết kỹ thuật thì phải tốn thêm chi phí làm tăng giá thành sản phẩm và giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.

Việt Nam đã từng quy định thành viên hợp danh góp vốn bằng kiến thức, kỹ năng, uy tín của mình(6). Sức lao động cũng từng được xem là tài sản góp vốn vào hợp tác xã ở Việt Nam. Tuy nhiên, nhà làm luật Việt Nam cho rằng sức lao động khó có thể định lượng giá trị nên quy định này đã không còn được duy trì(7).
Có ý kiến cho rằng việc thừa nhận tài sản góp vốn là kiến thức, uy tín hay hoạt động kinh doanh sẽ cổ súy cho “vốn ảo” bởi chúng vô hình và khó đo lường, định giá. Chúng đều gắn với hoạt động của mỗi cá nhân, chỉ có thể đánh giá thông qua kết quả hoạt động kinh doanh của cá nhân. Tuy nhiên, kết quả đó phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố bản thân người đó, như thái độ, tinh thần, tình trạng sức khỏe, kỹ năng xử lý và đôi khi là cả sự may mắn của cá nhân đó. Như vậy, về khía cạnh pháp lý sẽ không đảm bảo được khả năng trả nợ. Nghĩa là người ta chưa kinh doanh thì đã sợ họ đi lừa. Chúng ta chỉ chú ý đến sự an toàn của con nợ, mà không chú ý đến tính sinh lời đẻ lãi của vốn để trả nợ!

Ở hầu hết các nước, họ cũng chỉ cho phép góp vốn bằng kiến thức, uy tín hay hoạt động kinh doanh thông qua hình thức hợp danh, tức thành viên góp loại vốn này sẽ phải chịu trách nhiệm liên đới vô hạn bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi nghĩa vụ của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, giá trị của vốn góp bằng kiến thức hay uy tín sẽ do các thành viên tự ấn định ghi vào điều lệ doanh nghiệp để phân chia lợi nhuận mà không được ghi vào bảng cân đối kế toán để quy thành giá trị dùng để thanh toán nợ của doanh nghiệp. Điều này đảm bảo rằng, số vốn mà doanh nghiệp khai báo, đăng ký là số tài sản định giá được. Và vì vậy vốn đó là “vốn thực” như những doanh nghiệp khác.

Việc không thừa nhận kiến thức, uy tín và hoạt động kinh doanh ở Việt Nam hiện nay là tài sản góp vốn vào doanh nghiệp đã làm cho phạm vi tài sản góp vốn vào doanh nghiệp bị thu hẹp so với các nước. Điều này có thể “để người dân đứng bên lề sự phát triển đất nước” và không phù hợp với tinh thần “hỗ trợ cộng đồng khởi nghiệp” mà Chính phủ đang thực hiện. Mặt khác, quy định này sẽ làm hạn chế quyền tự do kinh doanh của công dân, không khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để người dân tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Bởi lẽ, chỉ khi tham gia vào sản xuất kinh doanh với tư cách làm chủ thì họ mới nỗ lực hết mình và phát huy hết khả năng sáng tạo. Như một người bạn của tôi nói: “Sẽ thật sự không công bằng với những người ham thích kinh doanh và có thể kinh doanh tốt từ hai bàn tay trắng nhưng sở hữu khối óc thông minh và đầy mẫn cán”.

Do vậy, Việt Nam nên quy định phạm vi tài sản góp vốn thành lập doanh nghiệp ở mức độ rộng hơn, bao gồm cả kiến thức, uy tín và hoạt động kinh doanh để tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các cá nhân có thể trực tiếp tham gia thành lập và quản lý doanh nghiệp của mình, giải phóng triệt để nguồn lực sản xuất, góp phần phát triển kinh tế - xã hội đất nước.


(*) Trường Đại học Kinh tế - Luật

(1) Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Đình Cung: Công ty, vốn, quản lý và giải quyết tranh chấp theo Luật Doanh nghiệp 2005, NXB Tri thức, năm 2013, trang 123

(2) https://www.sba.gov/starting-business/choose-your-business-structure/partnership; truy cập ngày: 13-4-2017

(3) Điều 16, điều 146 Luật Doanh nghiệp thương mại Campuchia năm 2005

(4) Điều 44, điều 76, điều 99 Luật Doanh nghiệp Lào năm 2014

(5) Điều 35.1 Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2014

(6) Điều 95 Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 1999

(7) Điều 1 Luật Hợp tác xã năm 2003 và tờ trình số 99/TTr-CP ngày 3-5-2012 của Chính phủ về báo cáo tổng kết thi hành Luật Hợp tác xã năm 2003

Chia sẻ:
   
CÙNG CHUYÊN MỤC
>>Xem thêm chuyên mục khác:
© 2012 - 2015 Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online.