Homepage E-Paper 24/09/2017
Không thể trông đợi phá giá nội tệ để hỗ trợ xuất khẩu
Thứ Hai,  8/5/2017, 10:35 (GMT+7)

Không thể trông đợi phá giá nội tệ để hỗ trợ xuất khẩu

Nguyên Lê

(TBKTSG) - TBKTSG trao đổi với TS. Nguyễn Ngọc Anh về giải pháp duy trì tăng trưởng xuất khẩu của nước ta trong bối cảnh đầy thách thức mới.

TBKTSG: Theo ông, Việt Nam cần tập trung củng cố các thị trường xuất khẩu có tốc độ tăng trưởng cao và còn tiềm năng như Mỹ, châu Âu như thế nào, trong bối cảnh chính sách thương mại của Mỹ tiềm ẩn nhiều rủi ro và sự trì trệ tăng trưởng kinh tế ở châu Âu.

TS. Nguyễn Ngọc Anh.

- TS. NGUYỄN NGỌC ANH: Mỹ và châu Âu (28 nước) là hai nền kinh tế có kim ngạch nhập khẩu lớn nhất thế giới hiện nay. Tuy tốc độ tăng trưởng kinh tế của Mỹ và châu Âu trong những năm gần đây có thấp hơn so với thập kỷ trước nhưng xu hướng hồi phục khá rõ nét. Vì thế nhu cầu nhập khẩu trong năm 2017 và 2018 sẽ tiếp tục tăng cao hơn so với các năm trước đây.

Mặc dù tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào hai thị trường này là tương đối lớn, chiếm tới 41% kim ngạch xuất khẩu năm 2016, nhưng với xu hướng tăng trưởng xuất khẩu trong những năm gần đây thì hai thị trường này vẫn còn nhiều tiềm năng để mở rộng hơn nữa. Các mặt hàng như điện thoại và linh kiện; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; nông sản, và dệt may là các mặt hàng vẫn đạt được tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao vào hai thị trường này trong năm vừa qua, cho thấy vẫn còn rất tiềm năng.

Trong bối cảnh tiềm ẩn nhiều rủi ro về mặt chính sách thương mại của các nước lớn, đặc biệt từ Mỹ, để có thể duy trì được tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao vào các thị trường này thì vai trò của Chính phủ là rất quan trọng. Trong thời gian trước mắt, Chính phủ cần tập trung vào việc cung cấp thông tin và phân tích về cơ hội cũng như rủi ro về các ngành hàng mà Việt Nam có tiềm năng xuất khẩu tại hai nền kinh tế này. Với thị trường EU, trong thời gian tới, Việt Nam cần phải khai thác tốt lợi thế của hiệp định thương mại tự do (FTA) đã kết thúc đàm phán. Còn với thị trường Mỹ, có thể Việt Nam sẽ phải chủ động đẩy nhanh việc đàm phán ký kết FTA song phương để thay thế cho Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) mà Mỹ đã không còn tham gia nữa.

TBKTSG: Xu hướng đa dạng hóa thị trường xuất khẩu đang diễn ra chậm. Chúng ta đã tận dụng hay bỏ lỡ cơ hội từ các FTA như thế nào, đâu là mũi nhọn cần ưu tiên đột phá, với giải pháp gì, theo ông?

- Đúng là xu hướng đa dạng hóa thị trường xuất khẩu của Việt Nam diễn ra chậm hơn so với mục tiêu mà các cơ quan chính sách đặt ra, bất chấp việc Việt Nam đã ký kết và thực thi tới 10 hiệp định FTA và đang đàm phán sáu hiệp định khác nữa. Tuy nhiên, có thể thấy rõ là hiểu biết của doanh nghiệp trong nước về cơ hội xuất khẩu mà các hiệp định FTA này mở ra đã có nhiều cải thiện. Các doanh nghiệp trong nước đã đẩy mạnh xuất khẩu hơn sang các thị trường Trung Quốc và Hàn Quốc, giúp cho kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam năm 2016 sang Trung Quốc đạt 22 tỉ đô la Mỹ (tăng 28,4%) và sang Hàn Quốc đạt 11,4 tỉ đô la Mỹ (tăng 28%) so với năm trước.  

Điều đáng tiếc nhất có lẽ là ATIGA, tức hiệp định thương mại tự do trong Cộng đồng kinh tế ASEAN. Trong khi các doanh nghiệp của Thái Lan, Singapore, Malaysia... đã chuẩn bị rất tốt để thâm nhập thị trường Việt Nam thì các doanh nghiệp Việt Nam mới bắt đầu tiến hành các hoạt động nghiên cứu và thâm nhập các thị trường này. Đây là lý do khiến cho kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường ASEAN năm 2016 giảm 4,8%, dẫn đến Việt Nam nhập siêu từ thị trường này lên tới 6,3 tỉ đô la Mỹ, tăng 12,5% so với năm 2015.

TBKTSG: Vai trò của hoạt động xúc tiến thương mại (XTTM) trong việc này như thế nào, cần đổi mới ra sao cho hiệu quả?

- Hoạt động XTTM đóng vai trò quan trọng và quyết định trong việc duy trì tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam trong năm 2017 và các năm tiếp theo. Với nguồn lực cho hoạt động XTTM còn mỏng, thì Việt Nam cần triển khai hoạt động XTTM có trọng tâm, trọng điểm phù hợp với tiến trình hội nhập và các FTA. Các hoạt động XTTM cần được tổ chức gắn chặt với định hướng và kế hoạch dài hạn của công tác XTTM, trong đó tập trung vào những mặt hàng xuất khẩu chủ lực và có dư địa tăng trưởng.

Thiếu thông tin về thị trường và vấn đề quảng bá sản phẩm đang là khó khăn chung của nhiều doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam. Chính vì vậy, các cơ quan XTTM của Chính phủ cần chủ động cung cấp cho các doanh nghiệp các thông tin liên quan đến thị trường nước ngoài, thực hiện hoạt động khảo sát một số thị trường nước ngoài trọng điểm và hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng và phát triển thương hiệu tại các thị trường mà Việt Nam có tiềm năng xuất khẩu.

TBKTSG: Để tăng trưởng xuất khẩu bền vững, nhất là vào các thị trường có chất lượng cao, ngoài việc doanh nghiệp Việt Nam phải nâng cao năng lực cạnh tranh cho sản phẩm thì chính sách vĩ mô, như chính sách tiền tệ (tỷ giá, lãi suất...) có thể hỗ trợ được gì?

- Về mặt lý thuyết, việc một quốc gia chủ động hạ giá đồng nội tệ sẽ hỗ trợ xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu của quốc gia đó. Tuy nhiên, điều này chỉ có tác dụng đối với những đồng tiền mà có hiệu ứng chuyển của tỷ giá hối đoái (exchange rate pass-through effects) thấp đối với lạm phát và tăng trưởng. Tuy nhiên, theo một nghiên cứu gần đây của PGS.TS. Phạm Thế Anh về hiện tượng này thì Việt Nam lại là quốc gia có hiệu ứng chuyển của tỷ giá hối đoái tương đối cao. Điều này hàm ý rằng, để đảm bảo ổn định vĩ mô, Việt Nam vẫn cần phải duy trì ổn định tỷ giá. Hay nói cách khác, chúng ta không thể trông đợi vào chính sách phá giá nội tệ để hỗ trợ xuất khẩu như một số quốc gia khác.

Như vậy, để duy trì tăng trưởng xuất khẩu thì chúng ta cần tiếp tục dựa vào nỗ lực của doanh nghiệp trong việc nâng cao chất lượng hàng hóa, đầu tư mẫu mã và xây dựng thương hiệu, cũng như dựa vào sự hỗ trợ của Chính phủ trong các hoạt động XTTM.

Chia sẻ:
   
CÙNG CHUYÊN MỤC
>>Xem thêm chuyên mục khác:
© 2012 - 2015 Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online.