Homepage E-Paper 24/06/2017
Quan ngại về dự án thủy điện Pak Beng
Thứ Sáu,  19/5/2017, 14:44 (GMT+7)

Quan ngại về dự án thủy điện Pak Beng

Lê Anh Tuấn (*)

Các đập thủy điện trên dòng chính sông Mêkông đe dọa hệ sinh thái và nguồn sống lưu vực sông với hơn 60 triệu dân, trong đó có 20 triệu người ở đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam, khoảng 16 triệu người Campuchia, khoảng 18 triệu người Thái Lan và xấp xỉ hơn 6 triệu người Lào. Ảnh: LÊ HOÀNG VŨ

(TBKTSG) - Từ 20-12-2016 rồi kéo dài tiếp sáu tháng sau, Ủy hội Sông Mêkông (MRC) bắt đầu việc nghiên cứu “tham vấn trước” đối với dự án đập thủy điện Pak Beng của Lào trên dòng chính sông Mêkông. Theo người viết, có rất nhiều quan ngại về dự án này, bắt đầu từ việc số liệu nền của dự án đã lạc hậu...

Pak Beng nằm ở Tây Bắc Lào, cách biên giới Việt Nam - Campuchia 1.933 ki lô mét; là công trình thủy điện thứ ba Lào thông báo sẽ xây dựng trong chuỗi 11 dự án thủy điện của Lào và Campuchia trên dòng chính sông Mêkông, sau hai dự án Xayabury và Don Sahong đang được Lào xây dựng. Pak Beng có công suất 912 MW, 90% lượng điện sẽ xuất sang Thái Lan, chủ đầu tư là Công ty Datang (Trung Quốc).

Hiện nay, tuy chưa kết thúc quy trình tham vấn bắt buộc trước khi xây dựng theo quy định tại Hiệp định Mêkông 1995 của MRC đã được ký giữa Việt Nam, Campuchia, Lào và Thái Lan, nhưng từ năm 2015, Công ty Datang và phía Lào đã xây dựng các công trình cầu đường, bãi tập kết vật liệu, nhà xưởng ở khu vực xây đập.

Ngoài ra, vào tháng 3-2014, Chính phủ Lào đã cấp phép môi trường (environmental permits) cho Công ty Datang, trước khi trải qua các bước theo đúng tiến trình là xúc tiến thủ tục thông báo, tham vấn trước và chuẩn thuận (PNPCA), theo đúng tinh thần của Hiệp định Mêkông 1995.

Còn trong quá trình tham vấn dự án Pak Beng, nổi lên nhiều quan ngại về thời gian, nội dung cũng như quy mô tham vấn cộng đồng, giống như trường hợp của hai dự án Xayabury và Don Sahong trước đây. Khi đó, chính phủ và các cộng đồng dân cư hạ nguồn Mêkông phía Campuchia và Việt Nam đều không đồng tình các nội dung liên quan đến các tác động xuyên biên giới của dự án.

Quan ngại lớn nhất với Pak Beng là báo cáo kỹ thuật tác động của dự án do Công ty Kỹ thuật Côn Minh (Kunming Engineering Company - ChinaPower) - đơn vị đảm trách - đã sử dụng các số liệu nền về thủy văn, thủy lực, phù sa, bùn cát... lạc hậu và thiếu. Các số liệu này có từ thập niên 1960-1970; trong khi sáu đập thủy điện lớn trên dòng chính Mêkông phía Trung Quốc đang hoạt động đã làm thay đổi hoàn toàn đặc điểm thủy văn - thủy lực từ thượng nguồn phía Trung Quốc dài đến vùng trung và hạ lưu sông Mêkông.

Ngoài ra, thuật toán trong báo cáo này chủ yếu dùng phương pháp ước tính theo tỷ lệ khu vực nên chưa thuyết phục và không có điều kiện kiểm chứng. Các tiêu chuẩn đánh giá tác động lại sử dụng tiêu chuẩn của Trung Quốc mà không sử dụng các tiêu chuẩn quốc tế của MRC.

Một khi số liệu thiếu, phương pháp kém, lệch chuẩn thì tất cả những kết quả về thủy học dòng chảy, phù sa, bùn cát, thủy sản, chất lượng nước, kinh tế - xã hội, giao thông thủy và an toàn đập đều vô nghĩa.
Các biện pháp giảm thiểu tác động của đập thủy điện này đối với hệ sinh thái và nhóm người bị tổn thương lại rất mờ nhạt, không thuyết phục, mang tính đối phó do thiếu cơ sở khoa học và điều kiện minh chứng, kiểm chứng.

Vấn đề này rất quan trọng vì lưu vực sông Mêkông là nơi sinh sống của hơn 60 triệu dân, trong đó có 20 triệu người ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) của Việt Nam, khoảng 16 triệu người Campuchia, khoảng 18 triệu người Thái Lan và xấp xỉ hơn 6 triệu người Lào.

Các tác động mang tính tiêu cực như thay đổi đặc điểm thủy học, trầm tích, nguồn thủy sản, hệ sinh thái, an toàn đập... dẫn đến sự tan rã của ĐBSCL sẽ tăng tốc và việc “hối tiếc” để giảm thiểu là vô cùng khó khăn và cực kỳ tốn kém.

Việc thương thuyết thỏa thuận liên quan đến phân chia quyền lợi về khai thác và sử dụng nguồn nước hợp lý với các quốc gia thượng nguồn nhằm bảo vệ hệ sinh thái và nguồn sống lưu vực Mêkông cũng chưa được lưu ý.

Vì tất cả những quan ngại này, theo tôi, trước mắt, nhà đầu tư nên hoãn lại việc xây dựng đập thủy điện Pak Beng và các đập khác trên hệ thống Mêkông cho đến khi các đánh giá tác động và giải pháp giảm thiểu, chia sẻ lợi ích khoa học và thuyết phục hơn. Trong đó, rất cần phải đẩy mạnh những giải pháp ngoại giao nguồn nước (hydro-diplomacy) để cứu nguy cho ĐBSCL.

(* ) Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu biến đổi khí hậu - Đại học Cần Thơ

Để việc “tham vấn trước” các dự án thủy điện trên dòng chính sông Mêkông còn ý nghĩa

Ngày 12-5-2017, Bộ Tài nguyên và Môi trường (TNMT) đã tổ chức buổi họp tham vấn cấp quốc gia cho công trình thủy điện Pak Beng trên dòng chính sông Mêkông tại thành phố Cần Thơ. Đây là công trình thủy điện thứ ba sau hai công trình thủy điện trước là Xayabury và Don Sahong cùng trên lãnh thổ của Lào. Vì vậy, đối với Việt Nam thì đây cũng là lần tổ chức tham vấn thứ ba.

Theo tôi, lần tổ chức tham vấn này có khác hơn hai lần tham vấn trước là do Bộ trưởng Bộ TNMT Trần Hồng Hà đứng ra chủ trì và có sự tham gia đánh giá của các chuyên gia quốc tế đối với báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) của chủ đầu tư. Nhưng có dự rồi mới thấy có những thứ cũng giống như hai lần tham vấn trước, đó là: (1) Báo cáo ĐTM quá sơ sài, số liệu vừa cũ vừa thiếu, kết quả rất phiến diện và không đáng tin cậy; (2) Mất tiền của và thời gian tổ chức tham vấn; và (3) Không chắc là Lào có tiếp thu các ý kiến đóng góp này hay không.

Theo kế hoạch thì Lào sẽ còn xây thêm sáu đập và Campuchia sẽ xây thêm hai đập cũng trên dòng chính sông Mêkông. Vậy Việt Nam cũng sẽ tổ chức thêm tám lần tham vấn nữa? Kết quả có đều giống nhau?

Trong Hiệp định Mekong mà bốn nước gồm Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam đã ký, có ghi: “Khi một hoặc nhiều quốc gia được thông báo với những bằng chứng rõ ràng về việc đang gây ra các thiệt hại đáng kể cho một hoặc nhiều quốc gia ven sông khác do sử dụng nước và/hoặc xả thải vào sông Mêkông, thì quốc gia hoặc các quốc gia đó phải ngừng ngay lập tức nguyên nhân gây hại đó cho tới khi nguyên nhân gây hại đó được xác định” (điều 7).

Những phân tích của các chuyên gia trong và ngoài nước về các bất cập trong các báo cáo ĐTM của Lào đưa ra cũng như ý kiến đóng góp của các đại biểu tham gia trong các buổi tham vấn quốc gia về nguy cơ thiếu hụt phù sa, sạt lở, hạn hán, mặn xâm nhập... không phải là “những bằng chứng rõ ràng” hay sao? Vậy tại sao Lào vẫn tiếp tục xây hết đập này đến đập khác?

Hiệp định Mêkông được soạn ra năm 1957, trong đó có quy định “mỗi hội viên trong Ủy ban Sông Mekong có quyền phủ quyết bất cứ một dự án nào bị coi là có ảnh hưởng tác hại tới dòng chính sông Mêkông”. Nhưng đến năm 1995 hiệp định này đã được bốn nước là Lào, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam ký lại với nội dung thay đổi là “không một quốc gia nào có quyền phủ quyết”!

Có lẽ, đây là “lỗ hổng” quan trọng nhất mà Ủy ban Sông Mêkông Việt Nam (VMC) cần phải tư vấn cho Bộ TNMT và Chính phủ Việt Nam giải quyết. Nếu không thì kết quả của các cuộc họp tham vấn cấp quốc gia sắp tới về các công trình thủy điện trên dòng chính sông Mêkông là điều mà bây giờ chúng ta có thể đoán trước được!

Dương Văn Ni (chuyên gia về đa dạng sinh học, Đại học Cần Thơ)

 

Chia sẻ:
   
CÙNG CHUYÊN MỤC
>>Xem thêm chuyên mục khác:
© 2012 - 2015 Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online.