Homepage E-Paper 21/10/2017
Quản lý đừng “quản thúc” ngành kinh doanh có điều kiện
Thứ Ba,  13/6/2017, 07:18 (GMT+7)

Quản lý đừng “quản thúc” ngành kinh doanh có điều kiện

Nguyễn Thanh Lâm

(TBKTSG) - Cách đây 18 thế kỷ, Ulpian là nhà luật học La Mã đã định nghĩa luật học là khoa học về sự công bằng/hợp lý và sự bất công/phi lý.

Trong tinh thần đó, chúng ta hoan nghênh nỗ lực mới đây của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Ngân hàng Thế giới (World Bank) đã cùng rà soát lại các quy định liên quan đến các ngành kinh doanh có điều kiện.

Cũng trong tinh thần đó, tôi xin mạo muội góp ý cho bước tiếp theo: Nhà nước nên quản lý các ngành kinh doanh có điều kiện như thế nào trong tương lai.

Khung điều kiện kinh doanh trong kinh tế thị trường

Thật ra, trong nền kinh tế thị trường, mọi người đều được hưởng quyền tự do kinh doanh nếu việc ấy không hại cho lợi ích của cộng đồng và cho người tiêu dùng. Điều đó cũng có nghĩa mọi ngành nghề đều được hiểu là luôn phải đi kèm với những điều kiện rất đương nhiên, như người tài xế thì phải biết lái xe, bác sĩ phải chẩn được bệnh, thợ hớt tóc phải biết sử dụng kéo...

Hàng ngàn nghề kiếm ăn đều có những bản mô tả công việc và kỹ năng, kiến thức chuyên biệt buộc phải có, với mức độ ít hay nhiều, nhạt hay đậm, mà nôm na gọi là tay nghề thấp hay cao. Phòng thương mại và công nghiệp ở các nước thường góp phần quản lý bằng cách cấp giấy xác nhận trình độ tay nghề hoặc bằng chuyên viên cho các ngành thủ công và công nghiệp nhẹ, dựa trên thành quả thi tốt nghiệp ở các trường nghề của mình. Người hành nghề thường buộc phải trưng bằng cấp chuyên môn ở cửa hàng hay nơi kinh doanh, cũng là để tự hào và làm tăng độ tin cậy của khách hàng, dù đó là tiệm sửa xe, rửa xe, nhà hàng, khách sạn hay tiệm tạp hóa.

Chính vì thế mà để trở thành thợ hớt tóc cấp cao, chuyên nghiệp trong việc tạo nhiều kiểu tóc, sử dụng thành thạo các loại thuốc gội đầu phù hợp với tóc và da (khô hay nhờn, trẻ hay già) và hiểu rõ các bệnh dị ứng, họ phải học hai năm. Hay người lái xe container phải học thực hành sáu tháng trước khi được lái xe ra công lộ.

“Điều kiện kinh doanh” và “kinh doanh có điều kiện”

Nêu thí dụ như trên là để nói đến “điều kiện kinh doanh” là một vế riêng. Vế thứ hai là “kinh doanh có điều kiện”.

Theo nguyên tắc cơ bản của kinh tế thị trường, mọi người và hầu hết mọi ngành nghề đều được tự do kinh doanh. Điều này cũng phù hợp và được khẳng định trong tuyệt đại đa số các hiến pháp. Tuy nhiên, còn tùy theo định nghĩa về nghề (thí dụ mại dâm được một số nước xem là nghề và đưa vào tầm kiểm soát bằng các quy định khám sức khỏe hàng tuần và tập trung ở khu đèn đỏ chẳng hạn. Trên thực tế, hầu hết các nước đều lúng túng và thiếu tính nghiêm minh thi hành luật triệt để, xem luật về việc này như “lưỡi gươm Damocles treo trên đầu”). Trước thời Khai Sáng và giai đoạn cuối của thời Phục Hưng vào thế kỷ 17, các vua, lãnh chúa và cả các tôn giáo đã tác động mạnh đến chuyện đúng và sai, chuyện công bằng và bất công, chuyện hợp lý và phi lý để làm luật. Chuyển luật từ chỗ “của giai cấp thống trị” sang luật mang tính “cộng hòa” là một chương văn minh đầy máu lửa của nhân loại.

Những hoạt động tổn hại lợi ích cộng đồng một cách rõ ràng (như mua bán ma túy, buôn người, đòi nợ thuê kiểu giang hồ) bị cấm là đúng. Đó không phải là “nghề” được xã hội công nhận theo nghĩa làm việc không trái lương tâm để mưu sinh. Các ngành nghề bị cấm phải được quy định rõ ràng, tránh nhập nhằng hay hiểu nhầm, hiểu sai. Thời nào cũng nên như vậy.

Còn các ngành nghề kinh doanh có điều kiện thì phải là những điều kiện rất đặc biệt, không nên chung chung kiểu không có tiền án (với mức độ nào; lĩnh vực nào; như thế có mâu thuẫn với việc hỗ trợ tái hội nhập và hoàn lương?). Hay những điều kiện như phải có phương tiện phòng cháy chữa cháy là những điều kiện vốn rất đương nhiên, được xem là “luật bất thành văn”.

Có nên có tới 243 ngành nghề kinh doanh có điều kiện?

Xem chi tiết các quy định danh mục ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện ở trang web dangkykinhdoanh.gov.vn, có 15 lĩnh vực được liệt kê. Trong 243 ngành nghề được xếp vào loại “kinh doanh có điều kiện”, hầu hết đều buộc người hành nghề (chủ doanh nghiệp?) không có quốc tịch nước ngoài hay định cư ở nước ngoài mà chỉ dành cho công dân Việt Nam. Điều này nên được Quốc hội và Chính phủ xem xét lại trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay.

Thử vạch lá tìm sâu, chúng ta thấy dịch vụ xoa bóp và dịch vụ cầm đồ nằm trong lĩnh vực an ninh quốc phòng(?); không thấy cấm hay nêu điều kiện kinh doanh vũ khí, khí tài. Việc khai thác khoáng sản thì do Bộ Tài nguyên - Môi trường lo, trong khi hoạt động kinh doanh khoáng sản thì Bộ Công Thương lo(!?). Kinh doanh rượu, kinh doanh hàng đa cấp và vận chuyển vật liệu phóng xạ cũng nằm trong danh sách, và vô hình trung được khuyến khích, tựa như dịch vụ đòi nợ (chỉ cần tốt nghiệp trung cấp một trong bốn ngành là kinh tế, quản lý, pháp luật hay an ninh và ký quỹ, trong khi ở các nước khác, đó là một dịch vụ của luật sư phối hợp với tòa án và ngân hàng). Hay việc in và đúc tiền, về nguyên tắc, là lĩnh vực của nhà nước, vậy đưa vào danh sách này để làm gì? Nó thuộc về danh sách bị cấm!

Nếu cách phân định các nghề bị cấm, các “nghề kinh doanh cần hội đủ các điều kiện đặc biệt” được chấp nhận, lần rà soát mới của Quốc hội và Chính phủ nên quy định các nghề bị cấm; các điều kiện kinh doanh buộc doanh nghiệp phải tuân thủ và hoàn thiện trong thời hạn nhất định (thí dụ 1-12 tháng sau ngày nhận giấy phép đăng ký kinh doanh) tùy ngành nghề, và khoanh lại các lĩnh vực kinh doanh có điều kiện đặc biệt. Sở kế hoạch và đầu tư sẽ kiểm tra việc này thông qua việc bổ sung các điều kiện kinh doanh trên mạng Internet.

Như vậy, chắc chắn sẽ còn lại ít hơn 243 ngành nghề kinh doanh có điều kiện như hiện nay, và việc quản lý như thế sẽ góp phần cởi trói cho các doanh nghiệp mới thành lập, giúp họ không vuột mất thời cơ làm ăn.

Lợi ích của việc tiếp tục rà soát và hoàn thiện

Đứng về mặt doanh nghiệp, sự minh bạch về thủ tục sẽ giúp họ nắm vững lộ trình khởi nghiệp, lập nghiệp.
Đứng về mặt nhà nước, việc quản lý nhập nhằng, thiếu rõ ràng, thiếu hệ thống và logic có thể dẫn đến hai hệ lụy. Một là có quá nhiều bộ, ban ngành cùng quản lý một việc, một nghề nào đó. Hai là nguy cơ đẻ ra giấy phép con, cháu, chắt đi cùng với sự nhũng nhiễu, quan liêu và cả tham nhũng sống ký sinh cùng với các loại con dấu.

Nhà nước hiểu rất rõ những rào cản đối với doanh nghiệp: rào cản hành chính, rào cản thị trường (nhất là từ khách hàng và đối thủ cạnh tranh), rào cản kỹ thuật (đối với sản phẩm), rào cản vệ sinh - an toàn và rào cản thuế. Nhà nước cũng hiểu rõ tính logic, tính nguyên tắc, tính khoa học và tính thực tế của luật. Ước mong sẽ tiếp tục có thêm những sự rà soát và hoàn thiện trong tương lai, để nền kinh tế thị trường có nền tảng pháp lý vững chắc của nó.

Quản lý mà rơi vào chiến tranh giấy tờ hay nặng nề hành chính là tự đánh mất quyền lực và sức mạnh của quản trị cấp nhà nước, và có thể vô tình kìm hãm và “quản thúc” hàng vạn doanh nghiệp. 

Chia sẻ:
   
CÙNG CHUYÊN MỤC
>>Xem thêm chuyên mục khác:
© 2012 - 2015 Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online.