Homepage E-Paper 22/07/2017
Bảo vệ quyền riêng tư của trẻ em trên mạng: Còn nhiều điều chưa hợp lý
Thứ Tư,  5/7/2017, 08:08 (GMT+7)

Bảo vệ quyền riêng tư của trẻ em trên mạng: Còn nhiều điều chưa hợp lý

Lê Thị Thiên Hương

(TBKTSG) - Ngày nay, mạng xã hội đã trở thành nơi lưu trữ album ảnh gia đình của nhiều bậc cha mẹ. Ảnh con mới ra đời, bình sữa lần đầu tu sạch, bước đi chập chững đầu đời... các ông bố bà mẹ hào hứng chia sẻ con mình với cả thế giới. Hiện tượng này phổ biến tới mức nó làm nảy sinh ra một từ mới trong tiếng Anh - Sharenting, ghép từ hai từ “chia sẻ” (với mọi người) và từ “làm cha mẹ”, để chỉ hiện tượng chia sẻ ảnh con cái trên mạng xã hội. Việt Nam trong vấn đề này cũng không phải là ngoại lệ. Đưa ảnh con cái lên mạng xã hội trở thành điều quá phổ biến trong cuộc sống hàng ngày của nhiều bậc phụ huynh. Tất nhiên, số người hỏi ý kiến con trước khi đưa ảnh lên trên Facebook chắc đếm được trên đầu ngón tay.

Chính vì thế, sau khi Luật Bảo vệ trẻ em 2016 có hiệu lực (từ ngày 1-6-2017), dư luận tại Việt Nam đặc biệt xôn xao, nhất là các bậc phụ huynh, vì luật này có quy định trong điều 6, khoản 11 rằng một trong những hành vi bị luật nghiêm cấm là “Công bố, tiết lộ thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân của trẻ em mà không được sự đồng ý của trẻ em từ đủ 7 tuổi trở lên và của cha, mẹ, người giám hộ của trẻ em”. Sau đó, nghị định 56/2017/NĐ-CP của Chính phủ được ban hành quy định chi tiết một số điều của Luật Trẻ em. Điều 33 của nghị định có định nghĩa “thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân” như sau “là các thông tin về: tên, tuổi; đặc điểm nhận dạng cá nhân; thông tin về tình trạng sức khỏe và đời tư được ghi trong bệnh án; hình ảnh cá nhân; thông tin về các thành viên trong gia đình, người chăm sóc trẻ em; tài sản cá nhân; số điện thoại; địa chỉ thư tín cá nhân; địa chỉ, thông tin về nơi ở, quê quán; địa chỉ, thông tin về trường, lớp, kết quả học tập và các mối quan hệ bạn bè của trẻ em; thông tin về dịch vụ cung cấp cho cá nhân trẻ em”. Như thế, suy từ các quy định này ra thì trong trường hợp cha mẹ khi đưa thông tin hoặc hình ảnh thuộc phạm vi điều 33 thì cha mẹ buộc phải xin phép con nếu con từ 7 tuổi trở lên.

Một mặt, phải công nhận rằng các quy định mới này có tác dụng làm cho các bậc cha mẹ ý thức hơn về quyền riêng tư của con cái. Trẻ em là những thực thể độc lập và cũng cần được tôn trọng sự riêng tư - điều cần thiết cho trẻ phát triển hài hòa, tâm lý vững vàng.

Tuy nhiên, về phương diện pháp lý, các quy định này lại chứa đựng nhiều bất hợp lý, và chính điều này có thể cản trở việc bảo vệ quyền riêng tư của trẻ em trên mạng.

Thứ nhất là định nghĩa “thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân” của trẻ em quy định ở điều 33 của Nghị định 56/2017/NĐ-CP chưa bao trùm được tất cả các khía cạnh của khái niệm “thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân riêng tư của trẻ em” cần được bảo vệ. Điều 33 này đưa ra một danh sách có giới hạn các thông tin mà nếu công bố thì phải hỏi ý kiến trẻ em. Đây chính là điểm yếu đáng tiếc của quy định này, bởi vì từ đó suy ra những thông tin nào nằm ngoài danh sách này thì không được coi là thông tin cần xin phép trước khi công bố, tiết lộ. Trong khi đó, tồn tại những trường hợp thông tin “nhạy cảm” về đời sống riêng tư trẻ em nhưng không nằm trong các nhóm thông tin được bảo vệ này (1). Cũng như thế, chỉ “thông tin về tình trạng sức khỏe và đời tư được ghi trong bệnh án” mới được coi là thông tin riêng tư, bí mật. Những thông tin về “tình trạng sức khỏe và đời tư” mà không “ghi trong bệnh án” thì không được bảo vệ? Rõ ràng là điều này có thể làm giảm đáng kể hiệu quả việc bảo vệ trẻ em. Hơn nữa, nếu như thông tin, hình ảnh của trẻ em được bảo vệ, thì luật Việt Nam đã quên mất “giọng nói”. Một đoạn ghi âm trẻ hát hò, đọc thơ hay pha trò, nói chuyện cũng phải được coi là thông tin về đời sống riêng tư của trẻ em, và cũng phải có sự đồng ý của trẻ mới được đưa lên nơi công cộng như mạng xã hội. Luật của các nước tiên tiến như ở Pháp chẳng hạn đều coi “giọng nói” là “đặc điểm riêng tư” của cá nhân, vì thế được bảo vệ như hình ảnh cá nhân hay thông tin về đời sống riêng tư.

So sánh luật Việt Nam với luật nước ngoài sẽ cho thấy thêm sự thiếu đầy đủ của luật Việt Nam trong vấn đề này. Ví dụ như thay vì đưa ra một định nghĩa hẹp về “thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân” như trong Luật Bảo vệ trẻ em của Việt Nam, luật của Cộng hòa Pháp không đưa ra định nghĩa nào về phạm vi thông tin bảo vệ bởi “quyền riêng tư”, quyền mà bất cứ ai, trẻ em hay người lớn, đều được công nhận. Các quan tòa của Pháp đưa ra một khái niệm rộng: “cuộc sống riêng tư” được pháp luật bảo vệ là tên tuổi, hình ảnh, giọng nói, thông tin liên quan đến đời sống tình cảm, gia đình, sức khỏe, tôn giáo, nơi ở, thu nhập, lựa chọn chính trị... Ngoài ra, các chuyên gia luật thường đặt “cuộc sống riêng tư” đối diện với khái niệm “cuộc sống công cộng”, cái gì không nằm trong “cuộc sống công cộng” thì được coi là “cuộc sống riêng tư” và mỗi cá nhân đều có quyền giữ các chi tiết của cuộc sống riêng tư này không bị công bố nơi công cộng. Chính nhờ vào khái niệm rộng và mềm dẻo, nên luật của Pháp đảm bảo việc bảo vệ quyền riêng tư rất hiệu quả.

Thứ hai là luật Việt Nam quy định rằng khi trẻ em dưới 7 tuổi bố mẹ có thể tự quyết định việc công bố, tiết lộ thông tin, hình ảnh cá nhân của trẻ trên mạng, và khi con trên 7 tuổi thì cần thêm có sự cho phép của trẻ. Lấy mức 7 tuổi để làm mốc quyết định việc cần hay không cần sự cho phép của trẻ có lẽ không thực sự cần thiết. Bộ luật Dân sự Việt Nam hiện hành cũng như Luật Hôn nhân và Gia đình thông qua năm 2014 quy định cha mẹ là người đại diện của con chưa thành niên. Vì thế, mọi quyết định quan trọng liên quan đến con cái là do cha mẹ quyết định, vì lợi ích của con. Trong trường hợp cha mẹ không làm tròn trách nhiệm, có những hành vi ảnh hưởng đến lợi ích, sự an toàn của con thì có thể bị tòa án tuyên bố tước quyền làm đại diện pháp luật cho con. Chính vì thế, quy định rằng trẻ trên 7 tuổi cha mẹ phải hỏi ý kiến trước khi công bố, tiết lộ thông tin, hình ảnh trên mạng là không hợp lý. Khi cha mẹ là đại diện pháp luật cho con, cha mẹ đương nhiên có quyền quyết định việc công bố, tiết lộ hình ảnh, thông tin về đời sống riêng tư của con có nằm trong lợi ích của con hay có nguy hiểm cho con hay không. Tuy về mặt tình, có thể hiểu quy định này nhằm nâng cao ý thức cho bậc làm cha mẹ, nhưng về mặt hợp lý, đồng bộ của luật thì có lẽ chưa thực sự thuyết phục. Hơn nữa, còn nhiều vấn đề liên quan đến việc áp dụng trên thực tế thế nào, ví dụ như liệu sự cho phép của con là phải bằng hợp đồng (trong khi trẻ từ 6-18 tuổi chỉ được coi là có “năng lực hành vi dân sự một phần”, khi ký kết hợp đồng cần có sự cho phép của người đại diện cho pháp luật, tức cha mẹ) hay có thể chỉ bằng lời nói, vấn đề khó khăn khi cần bằng chứng chứng minh về sự cho phép hay không cho phép...

Thứ ba là chắc chắn trong tương lai có những trường hợp trẻ cho phép tại thời điểm công bố, nhưng khi lớn lên lại không còn muốn ảnh hay thông tin “nhạy cảm” của mình còn tồn tại trên mạng nữa, thì luật Việt Nam lại chưa có giải pháp. Chính vì thế các nhà làm luật cần nghĩ đến việc đưa vào luật công nhận “quyền được lãng quên”, một quyền đã được công nhận bởi luật của Liên hiệp châu Âu, cho phép tháo dỡ một nội dung “nhạy cảm” trên mạng liên quan đến đời sống cá nhân. Hiện nay, luật Cộng hòa Số thông qua năm 2016 của Pháp cũng đã cho phép trẻ em dưới 18 tuổi được phép thực hiện “quyền được lãng quên” nhằm yêu cầu các nhà cung cấp dịch vụ mạng xã hội hay mạng truyền thông xóa bỏ nhanh chóng các các nội dung liên quan đến đời sống riêng tư được đưa lên mạng trước đó, ngay cả trong trường hợp nội dung đó được đưa lên với sự đồng ý của các em trong quá khứ. Luật của bang California mang tên Eraser Law (“Luật xóa”) có hiệu lực từ năm 2015 cũng cho phép trẻ dưới 18 tuổi được yêu cầu dỡ bỏ các nội dung mang tính riêng tư liên quan đến bản thân đang hiện diện trên mạng Internet.

Chính vì luật Việt Nam chưa đủ hợp lý, nên khi có hiệu lực đã gây nhiều cách hiểu trái chiều trong dư luận, như nhiều người cho rằng chỉ khi thông tin, hình ảnh nhạy cảm, mang tính chất tiêu cực, ảnh hưởng đến tâm lý, lợi ích của trẻ mới bị cấm đăng lên khi không có sự cho phép của trẻ. Trên thực tế, quyền về hình ảnh của con trẻ, cũng như quyền này của người lớn, nằm độc lập với các tiêu chí này. Trên nguyên tắc, bất cứ hình ảnh nào cũng không thể bị đăng lên mạng khi không có sự đồng ý của người đó (điều 32 Bộ luật Dân sự hiện hành). Trong trường hợp trẻ em, cần có sự đồng ý của bố mẹ, vì bố mẹ là đại diện pháp luật cho con trẻ.

Tuy điều 6, khoản 11 của Luật Bảo vệ trẻ em 2016 kết hợp với điều 33 của Nghị định 56/2017/NĐ-CP nhằm mục đích bảo vệ tốt hơn quyền lợi của trẻ em, nhưng trên thực tế lại còn nhiều thiếu sót, bất cập, chưa nói đến việc tới giờ chưa có chế tài nào để xử phạt vi phạm điều 6 khoản 11. Vì thế, cần xem xét lại các quy định này để thực thi tốt hơn quyền trẻ em tại Việt Nam.

(1) Ví dụ như thông tin trẻ em là “con nuôi” của cha mẹ, thông tin về các mối quan hệ xã hội của trẻ ngoài phạm vi “bạn bè” và “gia đình”

Chia sẻ:
   
CÙNG CHUYÊN MỤC
>>Xem thêm chuyên mục khác:
© 2012 - 2015 Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online.