Homepage E-Paper 21/10/2017
Tiếp tục nỗi lo về sự độc quyền của Amazon
Thứ Hai,  31/7/2017, 08:30 (GMT+7)

Tiếp tục nỗi lo về sự độc quyền của Amazon

Trúc Diễm - Minh Anh

Bản thỏa thuận Amazon - Whole Foods đang làm dấy lên nỗi lo về việc nó sẽ giúp Amazon thống lĩnh trong lĩnh vực cung cấp hàng hóa trực tuyến.

(TBVTSG) - Tiểu ban chống độc quyền của Hạ viện Mỹ hồi trung tuần tháng 7 này đã lên tiếng bày tỏ sự quan ngại về kế hoạch mua chuỗi cửa hàng Whole Foods trị giá 13,7 tỉ đô la của Amazon. Đồng thời, tiểu ban này cũng đang thúc đẩy một cuộc điều trần để xem xét tác động của vụ thỏa thuận Amazon-Whole Foods  đến người tiêu dùng.

Trong bản thỏa thuận Amazon - Whole Foods được công bố vào tháng 6 về thương vụ thâu tóm, người khổng lồ trong lĩnh vực thương mại điện tử Amazon chưa công bố các kế hoạch sẽ thực hiện với các cửa hàng và các tài sản khác của Whole Foods. Thế nhưng, các nhà phân tích và các nhà đầu tư vẫn lo ngại bản thỏa thuận này có thể làm đảo lộn hoàn toàn bức tranh của ngành bán lẻ Mỹ cũng như sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới các doanh nghiệp nhỏ và người tiêu dùng trong lĩnh vực cung ứng thực phẩm.

Quan điểm khác biệt về thương vụ Amazon-Whole Foods

Theo hãng tin Reuters, Hạ nghị sĩ Đảng Dân chủ của Mỹ, ông David Cicilline, đã yêu cầu về một phiên điều trần hôm 13-7 trong một bức thư gửi Chủ tịch Ủy ban Tư pháp Hạ viện và Chủ tịch Tiểu bang chống độc quyền. Amazon và Whole Foods từ chối bình luận về thông tin này của Reuters.

“Việc thâu tóm Whole Foods của Amazon có thể ảnh hưởng đến các cửa hàng tạp hóa và người tiêu dùng trên khắp nước Mỹ”, Đảng Dân chủ bang Rhode Island, cho biết trong một bản thông báo. “Quốc hội có trách nhiệm xem xét kỹ lưỡng vụ sáp nhập này trước khi nó được thực hiện”.

Trên thực tế, bản thỏa thuận thương mại giữa Amazon và Whole Foods phải được sự chấp thuận của cơ quan thực thi việc chống độc quyền của Mỹ, rất có thể là Ủy ban Thương mại Liên bang. Quốc hội Mỹ không đóng vai trò chính thức trong quá trình thâu tóm này, nhưng các cuộc điều trần thường nhằm nhấn mạnh đến sự tác động có thể có của các thương vụ thâu tóm lên người tiêu dùng.

Nhiều người trong ngành bán lẻ quan ngại rằng, quy mô và sức ảnh hưởng của Amazon quá lớn, có thể có tác động tiêu cực tới các doanh nghiệp bán lẻ khác và cuối cùng dẫn tới việc người tiêu dùng phải chịu mua hàng giá cao hơn. Tổng thống Donald Trump, trước khi trở thành tổng thống cũng cho rằng Amazon có “vấn đề nghiêm trọng liên quan tới việc chống độc quyền”.

Hôm 10 -7, Giám đốc Quỹ đầu tư chứng khoán, ông Douglas Kass từ Seabreeze Partners Management Inc, cho biết ông đã bán bớt cổ phần của nhà bán lẻ trực tuyến này sau khi biết thông tin về cuộc điều trần có liên quan đến quy mô và sức ảnh hưởng của Amazon. “Tôi đã bán bớt cổ phiếu Amazon ngày hôm nay vì tôi nhận thấy rằng các cuộc thảo luận và giải trình đang được cân nhắc tại các phòng lập pháp ở Washington, D.C”, ông Douglas Kass nói trong lời thông báo gửi tới các nhà đầu tư vào ngày 17-7. “Nếu tôi đúng, các vụ điều trần này có thể làm cổ phiếu của Amazon giảm 10% chỉ trong vòng một đêm”.

Trong khi các chuyên gia về chống độc quyền cho biết họ mong đợi thương vụ của Amazon sẽ giành được sự chấp thuận của Chính phủ, một số nhà phê bình cho rằng bản  thỏa thuận nên bị ngăn chặn bởi vì nó sẽ giúp cho nhà bán lẻ này bắt đầu trở nên mạnh hơn và thống lĩnh trong lĩnh vực cung cấp hàng tạp hóa trực tuyến.

Nối tiếp những nỗi lo ngại

Đây không phải là lần đầu tiên Amazon đối mặt với những cuộc điều tra về chống độc quyền. Vào tháng 6-2015, Ủy ban châu Âu (EC) đã tiến hành một cuộc điều tra để xem xét liệu hãng bán lẻ này có lạm dụng sức mạnh công nghệ của mình để cạnh tranh bất bình đẳng trên thị trường sách điện tử hay không.

Cuộc điều tra đã tập trung vào các hợp đồng giữa Amazon và các công ty xuất bản, mà trong đó các công ty này phải có trách nhiệm thông báo cho Amazon nếu có bất kỳ hãng bán lẻ nào đưa ra một lời thỏa thuận hợp tác tốt hơn. Theo một bản thông cáo báo chí của EC, điều khoản nói trên có thể sẽ làm giảm bớt sự lựa chọn của khách hàng  và cản trở việc cạnh tranh trên thị trường.

Bản thông cáo báo chí có đoạn: “Amazon đã phát triển thành một doanh nghiệp thành công với việc cung cấp cho người tiêu dùng một dịch vụ toàn diện, bao gồm cả sách điện tử. Cuộc điều tra của chúng tôi không nhằm vào điều đó. Tuy nhiên, nhiệm vụ của chúng tôi là đảm bảo chắc chắn rằng các vụ thỏa thuận của Amazon với các nhà xuất bản không gây hại cho người tiêu dùng, bằng cách ngăn chặn các nhà phân phối e-book khác đổi mới và cạnh tranh có hiệu quả với Amazon. Việc điều tra của chúng tôi sẽ chỉ ra mối quan tâm như vậy là hợp lý”.

Thông tin về cuộc điều tra chống độc quyền vào đầu tháng 6-2015 được đưa ra chỉ vài tuần sau khi Amazon chấp nhận nhượng bộ trước một cuộc điều tra khác cũng của Ủy ban châu Âu liên quan đến sự nghi ngờ về việc công ty này trốn tránh nghĩa vụ nộp thuế.

Không chỉ Amazon, nhiều “người khổng lồ” công nghệ khác như Google và Apple cũng từng bị EC điều tra vì những lời cáo buộc về độc quyền.

Trên thực tế, trong những năm gần đây, đã có những mối bất đồng sâu sắc giữa Mỹ và Liên minh châu Âu trong việc thực thi những quy định thương mại, đặc biệt là khi nguồn tài nguyên có giá trị nhất của thế giới bây giờ không còn là dầu mỏ, mà là kho dữ liệu số đang tăng lên với cấp độ lũy thừa mỗi ngày, và các tập đoàn khổng lồ của Mỹ đang nắm giữ “quyền lực số” này trên toàn cầu.

Trong nguyên tắc vận hành chung của một thị trường lành mạnh, khi một loại hàng hóa mới xuất hiện kéo theo một ngành kinh doanh phát triển nhanh, lợi nhuận lớn, các nhà quản lý chống độc quyền sẽ vào cuộc để kiềm chế việc một số tập đoàn thống trị, kiểm soát sự phát triển lành mạnh của lĩnh vực kinh doanh đó.

Sự phong phú của kho dữ liệu đang làm thay đổi bản chất của sự cạnh tranh trong nền kinh tế số. Các tập đoàn công nghệ đương nhiên được tận hưởng trước các hiệu ứng từ thực tế này. Bản thân dữ liệu cũng mang lại những hiệu quả đáng kể. Thông qua việc thu thập dữ liệu, một hãng công nghệ có thêm thông tin để nâng cấp sản phẩm của mình, thu hút thêm người sử dụng, từ đó lại có thêm dữ liệu và quy trình theo đó lặp lại, tăng tiến.

Việc tiếp cận dữ liệu lớn cũng giúp các tập đoàn phòng vệ tốt hơn trước những đối thủ theo một cách riêng. Dữ liệu giúp các tập đoàn công nghệ giám sát hoạt động trên toàn bộ nền kinh tế: Google biết rõ mọi người đang tìm kiếm gì, Facebook hiểu rõ người ta chia sẻ gì, còn Amazon đương nhiên biết người ta đã mua gì...

Sự thách thức trong cuộc chiến chống độc quyền

Về bản chất, những công cụ chống động quyền cũ lại ít đả động tới loại tài sản mềm mang tên “dữ liệu lớn”. Nếu đánh giá Google chỉ qua hàng loạt văn phòng trụ sở hay số lượng bất động sản mà tập đoàn này sở hữu là chưa đủ. Bởi vậy, giới làm luật phải suy xét lại tất cả các điều luật căn bản, trong đó phải đặc biệt lưu tâm tới những cách tiếp cận mới.

Ví dụ, các cơ quan chống độc quyền cần nhìn nhận đúng hơn về tình hình trong thời kỳ kinh tế số. Như khi xem xét một vụ sáp nhập nào đó, họ thường lấy quy mô của công ty để xác định xem có nên can thiệp hay không. Nhưng giờ đây, giới chức trách nên tính đến phạm vi tác động từ nguồn dữ liệu mà công ty nắm giữ trong mỗi vụ mua bán và sáp nhập. Nghĩa là, cơ quan chống độc quyền phải huy động nguồn dữ liệu đa dạng hơn trong việc phân tích tác động của mỗi thương vụ.

Bên cạnh đó, các cơ quan chức năng cần siết chặt lại yêu cầu về “việc minh bạch hóa thông tin”, buộc bên cung cấp dịch vụ trực tuyến tiết lộ việc kiểm soát dữ liệu. Nghĩa là, doanh nghiệp phải báo cho người sử dụng dịch vụ những thông tin gì họ đang nắm giữ và nguồn doanh thu từ đó.

Một thế kỷ trước, câu chuyện chống độc quyền xoay quanh vấn đề dầu lửa. Nhưng nay các mối quan ngại tương tự được đặt ra trước hoạt động của những “ông lớn” công nghệ đang kinh doanh trên nền tảng dữ liệu, còn được gọi là “dầu lửa của kỷ nguyên số”. Đối phó với vấn đề này, tờ The Economist cho rằng có hai ý tưởng đáng tham khảo trong phương pháp tiếp cận mới nhằm chống độc quyền trong nền kinh tế số.

Trước hết, khi xem xét một thương vụ sáp nhập, các quan chức chống độc quyền không chỉ nên quan tâm tới quy mô của doanh nghiệp theo cách truyền thống, mà họ cần phải tính đến mức độ sở hữu dữ liệu của các công ty để đo lường tầm ảnh hưởng của các thương vụ sáp nhập. Mức giá thâu tóm cũng là tín hiệu cần được lưu tâm. Việc Facebook sẵn sàng bỏ ra một khoản tiền khổng lồ để mua WhatsApp khi ứng dụng này chưa thực sự có nhiều lợi nhuận rõ ràng đã hàm chứa những dấu hiệu bất thường.

Thứ hai, cơ quan quản lý cũng nên nới lỏng việc quản lý đối với các nhà cung cấp dịch vụ trực tuyến trong vấn đề dữ liệu, đồng thời trao thêm quyền kiểm soát dữ liệu cho những người cung cấp chúng. Trong giải pháp này, tính minh bạch là điều rất cần thiết. Các doanh nghiệp buộc phải công khai với người sử dụng về việc họ sẽ thu thập những thông tin gì và kiếm được bao nhiêu tiền từ kho dữ liệu thu thập đó.

Việc khởi động những giải pháp chống độc quyền trong kỷ nguyên thông tin là không đơn giản. Nó cũng sẽ làm phát sinh các nguy cơ mới, chẳng hạn việc chia sẻ dữ liệu có thể ảnh hưởng tới vấn đề quyền riêng tư. Nhưng nếu các chính phủ không muốn nền kinh tế số của họ bị chi phối bởi chỉ một vài người khổng lồ công nghệ thì rõ ràng họ cần hành động sớm.

Không khó để nhận diện những người khổng lồ này. Họ là Alphabet (công ty mẹ của Google), Amazon, Apple, Facebook và Microsoft, năm tập đoàn có giá trị nhất thế giới. Lợi nhuận của các doanh nghiệp này liên tiếp tăng trưởng trong những năm gần đây. Cụ thể, trong quý 1-2017 này, lợi nhuận ròng của năm tập đoàn này cộng lại đạt hơn 25 tỉ đô la. Chỉ riêng trong năm 2016, Amazon đã thâu tóm một nửa số tiền chi tiêu trực tuyến của người dân Mỹ, còn Google và Facebook chiếm gần như toàn bộ mức tăng trưởng doanh thu trong lĩnh vực quảng cáo số ở quốc gia này.

(Mời đọc thêm bài trên chuyên trang thương mại điện tử số báo ngày 10-07-2017)

Chia sẻ:
   
CÙNG CHUYÊN MỤC
>>Xem thêm chuyên mục khác:
© 2012 - 2015 Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online.