Homepage E-Paper 25/09/2017
Thuế phải góp phần điều chỉnh hành vi sản xuất và tiêu dùng
Thứ Sáu,  18/8/2017, 17:20 (GMT+7)

Thuế phải góp phần điều chỉnh hành vi sản xuất và tiêu dùng

Nguyên Lê

(TBKTSG) - Bộ Tài chính vừa đề xuất xây dựng luật thuế tài sản với mục tiêu bình ổn thị trường bất động sản, chống đầu cơ và sử dụng bất động sản lãng phí; đảm bảo chính sách thuế tài sản là một trong những nguồn thu ổn định của ngân sách nhà nước, phù hợp với thông lệ quốc tế. TBKTSG trao đổi với luật sư Nguyễn Tiến Lập - thành viên NHQuang & Cộng sự, trọng tài viên VIAC - nhìn lại việc sử dụng công cụ thuế hiện nay, để từ đó có góc nhìn đa chiều về đề xuất xây dựng luật này.

TBKTSG: Dưới góc nhìn về vai trò, chức năng của chính sách thuế, ông đánh giá như thế nào về đề xuất xây dựng luật thuế tài sản mới đây của Bộ Tài chính?

Luật sư Nguyễn Tiến Lập.

- Luật sư Nguyễn Tiến Lập: Trước hết, có thể nói rằng mối quan hệ giữa Nhà nước và người dân thông qua thuế không chỉ có ý nghĩa rất quan trọng mà còn hết sức nhạy cảm. Nó “quan trọng” ở chỗ nếu người dân không nộp thuế thì chính quyền không có tiền để chi tiêu và do đó, chính quyền luôn có xu hướng muốn thu được nhiều thuế nhất. Còn nó “nhạy cảm” bởi vì khi nộp thuế cho chính quyền thì người dân luôn luôn đòi hỏi được kiểm soát mọi hoạt động của chính quyền, xem có xứng đáng với đồng tiền thuế của mình hay không. Do đó, với việc đánh thuế nói chung hay đưa ra một sắc thuế mới nói riêng, hãy đừng bàn vội về mục tiêu điều tiết vĩ mô của nó mà nên đặt câu hỏi về tính chính đáng của giải pháp chính sách có liên quan.

Nói một cách cụ thể, trong bối cảnh hiện tại, chắc chắn sẽ là một vấn đề nhạy cảm xét từ góc độ phản ứng xã hội khi Bộ Tài chính đề xuất đánh thêm một loại thuế nữa, cho dù loại thuế gì chăng nữa, một khi bộ máy chính quyền đang quá lớn, chi tiêu thường xuyên vẫn quá nhiều, tình trạng tham nhũng còn quá nặng và khả năng thu hồi tài sản của Nhà nước qua đấu tranh chống tham nhũng lại quá thấp.

Riêng với cái gọi là “thuế tài sản” này, trước tiên tôi không cho rằng bởi các nước khác có thì nước mình cũng theo vì mỗi nước có bối cảnh riêng và hệ thống thuế khác nhau. Tiếp theo, cần thấy rằng tài sản để đánh thuế, nếu giới hạn vào hai đối tượng “đất” và “nhà” thì cần có sự phân biệt như sau: Đất vốn thuộc sở hữu toàn dân và do Nhà nước quản lý, do đó, khi Nhà nước chuyển giao quyền sử dụng cho người dân, dù là giao hay cho thuê, thì đã có cơ chế tài chính riêng về đất đai, chưa nói đến việc người dân với tư cách bên sử dụng đất cũng đã và đang nộp các loại thuế đất khác nhau rồi. Bên cạnh đó, nếu nói “đánh thuế” để giúp sử dụng đất hiệu quả hơn thì tôi e rằng hiện nay quỹ đất của quốc gia đang được Nhà nước quản lý rất kém hiệu quả bằng nhiều cách thức khác nhau chứ không phải người dân. Còn nếu đánh thuế nhà, tức đánh vào sở hữu tài sản thì tôi chưa rõ tính chính đáng ở đây là gì trong khi chúng ta đang khuyến khích mọi người dân làm giàu, thể hiện bằng việc sở hữu tài sản? Trong trường hợp gắn việc đánh thuế với mục tiêu chống đầu cơ nhà thì e rằng chúng ta đi ngược với nguyên lý thị trường, bởi “đầu cơ nhà” chính là một hình thức kinh doanh. Hơn nữa, nếu đầu cơ để bán thì Nhà nước đã thu thuế trước bạ và thuế thu nhập rồi, còn mua nhà theo kiểu tích tụ tài sản để cho thuê thì theo tôi, rất cần khuyến khích để tạo lập thị trường thuê nhà giá rẻ, qua đó tạo điều kiện cho mọi người có chỗ ở.

Nếu đánh thuế nhà một cách đơn giản và tuyệt đối, tức là đánh vào việc sở hữu nhà, rất có thể nó sẽ làm cho giá nhà tăng lên hoặc ít nhất không giảm. Bởi người giàu có thể sẽ tiếp tục mua nhà để đầu tư, trừ khi có các kênh đầu tư khác hấp dẫn hơn. Việc tăng giá nhà, cuối cùng lại gây hại cho người nghèo.

Tóm lại, nếu người dân không được thuyết phục về tính chính đáng của thuế tài sản thì e rằng họ sẽ quy cho việc đề xuất sắc thuế mới này chỉ là cách để tăng thu cho ngân sách nhà nước; mà hệ quả khi đó sẽ là sự suy giảm hơn nữa niềm tin của người dân vào động cơ và chất lượng hoạt động của bộ máy chính quyền.

TBKTSG: Nhìn lại quá trình ban hành và thực thi chính sách thuế hiện nay, có thể thấy, ngoài tác dụng thu tiền thuế, nhiều sắc thuế chưa phát huy tác dụng điều tiết hành vi sản xuất và tiêu dùng như tên gọi. Chẳng hạn như thuế bảo vệ môi trường, thuế tiêu thụ đặc biệt. Nguyên nhân nằm ở đâu, thưa ông?

- Ai cũng biết rằng về nguyên lý, thuế không chỉ là cách tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước mà còn là một công cụ điều tiết vĩ mô rất hiệu quả. Tuy nhiên ở nước ta, dù cho các nhà lập chính sách có nói gì chăng nữa thì vẫn phải thừa nhận rằng mục tiêu thứ hai nêu trên của chính sách thuế không đạt được như mong đợi. Lý do đơn giản là điều tiết vĩ mô phải hướng tới phát triển kinh doanh và công bằng xã hội, trong khi thực trạng cho thấy cộng đồng doanh nghiệp nói chung vẫn tiếp tục than phiền và kêu cứu, đồng thời khoảng cách giàu nghèo và phân hóa xã hội mỗi ngày một lớn hơn.

Theo tôi, về khách quan, đó là do vấn đề môi trường thể chế. Nhà nước chưa xác định đúng vị trí, vai trò và chức năng thích hợp của mình trong nền kinh tế thị trường. Thay vì điều hành vĩ mô với trọng tâm là thực thi pháp luật và bảo đảm cân đối trong các chỉ tiêu phát triển thì cả bộ máy chính quyền lại sa hay vướng vào các hoạt động được gọi chung là “quản lý nhà nước”, vốn là một khái niệm của cơ chế cũ, có nội hàm bao trùm lên mọi khía cạnh của đời sống kinh tế - xã hội. Theo logic đó, xã hội càng phát triển thì bộ máy quản lý càng phình to và đi theo nó là sự tiêu tốn càng nhiều nguồn lực xã hội được tạo nên từ thuế, dẫn đến hệ quả là các chức năng cơ bản của hệ thống thuế không còn được bảo đảm.

Về chủ quan, tôi không tin rằng các nhà lập chính sách tài chính và thuế không nhận thức được vấn đề. Tuy nhiên, do luôn luôn phải đối mặt với các nhu cầu bức thiết cả về chính trị, kinh tế và xã hội buộc phải đáp ứng, họ không còn không gian cho các hoạt động cân đối dài hạn. Trong khía cạnh này, việc minh họa bằng thuế bảo vệ môi trường là xác đáng. Số thu tới trên 42.000 tỉ đồng trong năm 2016 mà chỉ chi được trên 12.000 tỉ đồng cho mục tiêu bảo vệ môi trường(*) cho thấy sự bất cập giữa mục tiêu đề ra và sự thực hiện nó trên thực tế. Và trong một chừng mực nhất định, đó là sự bất lực và rối loạn trong quản trị công.

TBKTSG: Trong nhiều trường hợp, cơ quan quản lý nhà nước không nhất quán trong việc áp dụng tăng/giảm một loại thuế nào đó, như thuế xuất khẩu. Gần đây Bộ kế hoạch và Đầu tư đề xuất giảm thuế xuất khẩu để giải cứu ngành xi măng đang dư cung và không cạnh tranh được với hàng nhập khẩu ngay trong thị trường nội địa. Điều này có thể gây ra những hệ lụy vô hiệu hóa mục tiêu chính sách?

- Tôi đồng ý rằng ở đây có một vấn đề khác cần lưu ý, đó là sự mất hiệu quả điều phối chính sách chung giữa các bộ, ngành. Chúng ta vẫn đang duy trì sự tồn tại của nhiều bộ quản lý ngành theo cách thức của cơ chế cũ như Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Công Thương, Bộ Giao thông Vận tải hay Bộ Xây dựng. Theo đó, mỗi bộ vẫn chủ yếu quan tâm đến các chỉ số hoạt động trong lĩnh vực mình phụ trách, hơn là các chỉ số tổng hợp của nền kinh tế nói chung. Bộ Kế hoạch và Đầu tư quan tâm đến hiệu quả các dự án đầu tư trong ngành xi măng theo đúng chức năng của mình là đúng. Tuy nhiên, bộ này lại lảng đi vai trò điều tiết của cả thị trường lẫn thuế xuất khẩu như là công cụ chính sách vĩ mô. Theo đó, nếu xi măng dư thừa thì doanh nghiệp phải tự thu hẹp sản xuất hoặc thậm chí phá sản, hơn là hy sinh mục tiêu hạn chế lãng phí tài nguyên trong sản xuất xi măng. Tình trạng này có lẽ chỉ được khắc phục với việc tái cấu trúc lại bộ máy và chức năng các bộ, ngành.

TBKTSG: Ở các nước, để khuyến khích việc sử dụng xe điện, người mua xe điện được hoàn thuế. Ở nước ta, có vẻ như việc sử dụng công cụ thuế để hỗ trợ cho các chính sách phát triển chưa được chú trọng và chưa được linh hoạt? Điều này đồng nghĩa với việc các cơ quản lý nhà nước mất một cánh tay - công cụ giúp việc hữu hiệu, ông có nghĩ như vậy không?

- Tôi hoàn toàn nhất trí rằng công cụ thuế rất hữu hiệu trong hoạt động điều tiết vĩ mô phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, và điều này là thực tế phổ biến ở nhiều nước. Ở nước ta, đương nhiên không phải các nhà lập chính sách không hiểu việc này, thậm chí còn sử dụng công cụ thuế cho nhiều mục tiêu chính sách khác nhau với phạm vi còn rộng hơn cả cấp độ thông thường. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là các mục tiêu chính sách được gọi là điều tiết vĩ mô ít khi đạt được. Ý tôi muốn nói đến ví dụ thuế bảo vệ môi trường hay các loại thuế, phí đánh vào ô tô. Chẳng hạn, thuế bảo vệ môi trường phải mang lại hiệu quả hạn chế các hành vi gây hại môi trường và hỗ trợ khắc phục các hậu quả về môi trường một khi nó xảy ra. Tuy nhiên, qua con số thống kê về việc sử dụng tiền thuế thu được ở trên thì rõ ràng không phải vậy. Còn đối với việc duy trì phí và thuế cao đối với ô tô thì sau bao năm, đất nước vừa không phát triển được ngành công nghiệp ô tô, vừa không hạn chế được nạn tắc đường.

Tại sao thế ? Bởi chính sách thuế hầu như không bao giờ được áp dụng đồng bộ với các giải pháp điều hành khác, chưa nói đến năng lực thực thi chính sách nói chung của cả bộ máy nhà nước. Ví như, nếu Bộ Tài chính tăng thuế nhập khẩu để hạn chế một mặt hàng nào đó xâm nhập từ bên ngoài thì sẽ làm phát sinh hệ lụy là tệ nạn buôn lậu và gian lận thương mại để trốn thuế gia tăng, trong khi khả năng kiểm soát hai vấn đề này của các cơ quan chức năng lại rất hạn chế. Đồng thời, chúng ta lại không có biện pháp để thúc đẩy sản xuất mặt hàng đó ở trong nước để thay thế, bởi việc này lại thuộc lĩnh vực quản lý của một bộ, ngành khác. Thực trạng này ai cũng biết từ lâu nhưng vẫn chưa khắc phục được.

TBKTSG: Quay lại với đề xuất đánh thuế tài sản nói trên, ví dụ như đánh thuế đối với người sở hữu căn nhà từ thứ hai trở đi như báo chí đang thông tin, bình luận. Theo ông, tác động của chính sách này sẽ như thế nào và nếu điều đó xảy ra, bài học nào có thể được rút ra về việc sử dụng công cụ thuế.

- Tôi vẫn không hình dung được mục tiêu chính sách thật sự của sắc thuế mới này là gì, tuy nhiên chắc chắn rằng nó sẽ mang lại các tác động có tính hệ quả và hệ lụy một cách trực tiếp và nhanh chóng.

Đối với lĩnh vực nhà đất hay bất động sản nói chung, Việt Nam đang có vấn đề là giá cả quá cao, tới mức làm méo mó quan hệ cung - cầu và làm mất cân đối nghiêm trọng cơ cấu đầu tư của nền kinh tế và chi tiêu của người dân. Lý do quan trọng, theo tôi, đến từ nạn tham nhũng và chính sách vĩ mô bất hợp lý. Một mặt, số tiền tham nhũng hầu như chủ yếu được sử dụng để đầu tư vào nhà đất, mặt khác Nhà nước tiếp tục khuyến khích nhà đầu tư xây nhà để bán và người dân mua nhà, vừa để ở và đầu cơ vừa để dành cho con cháu, thay vì một chủ trương chung hợp lý hơn trong điều kiện di chuyển tự do của lao động trên thị trường, đó là sử dụng nhà thuê.

Nay, nếu đánh thuế nhà một cách đơn giản và tuyệt đối, tức là đánh vào việc sở hữu nhà, rất có thể nó sẽ làm cho giá nhà tăng lên hoặc ít nhất không giảm. Bởi người giàu có thể sẽ tiếp tục mua nhà để đầu tư, trừ khi có các kênh đầu tư khác hấp dẫn hơn. Việc tăng giá nhà, cuối cùng lại gây hại cho người nghèo.

Cho nên, tôi cho rằng sẽ là hợp lý, nếu đánh thuế nhà, đất nhưng chỉ nhằm vào các nhà, đất để trống hay không sử dụng, vừa để chống đầu cơ vừa hạn chế lãng phí tài nguyên đất đai. Nhà, đất khi đó sẽ được khuyến khích đưa vào kinh doanh, ít nhất làm cho thị trường thuê nhà phát triển và Nhà nước sẽ thu thuế từ hoạt động kinh doanh này. Đồng thời, một khi giá nhà, đất có thể vẫn cao khi mua nhưng lại rẻ khi thuê, thì đó sẽ chính là trạng thái hợp lý cho phát triển kinh tế cũng như bảo đảm ổn định đời sống của người dân. Ngoài ra, trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, rất cần lưu ý rằng bất cứ một chính sách nào nhằm hạn chế sở hữu tài sản, tức hạn chế người dân làm giàu, sẽ gây tác động làm cho những người giàu ra đi hoặc di dời tài sản, nguồn lực của họ ra khỏi đất nước thay vì ngược lại. Và e rằng điều đó sẽ là một viễn cảnh không một quốc gia nào mong muốn.

(*) http://vietnamnet.vn/vn/kinh-doanh/tai-chinh/hon-40-000-ty-thue-moi-truong-xang-dau-da-duoc-chi-the-nao-355604.html

Mời xem thêm

Nếu đánh thuế bất động sản: Giá trị đủ lớn rồi mới tới số lượng

Thuế tài sản dễ có nhiều lỗ hổng

Chia sẻ:
   
CÙNG CHUYÊN MỤC
>>Xem thêm chuyên mục khác:
© 2012 - 2015 Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online.