Homepage E-Paper 24/11/2017
Để thu tác quyền âm nhạc mà không bị phản ứng
Chủ Nhật,  10/9/2017, 16:31 (GMT+7)

Để thu tác quyền âm nhạc mà không bị phản ứng

Lê Thị Thiên Hương (*)

(TBKTSG) - Mấy tháng trước, Trung tâm Bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam (VCPMC) thông báo về việc thu tác quyền âm nhạc ở một số đối tượng mới, đầu tiên là ở các quán cà phê, quán karaoke sử dụng băng đĩa, bản ghi âm, sau là tại các cơ sở kinh doanh dịch vụ lưu trú có ti vi (tức là các khách sạn, nhà nghỉ có ti vi cho khách xem).

Điều đáng nói là mỗi khi VCPMC tiến hành thu tác quyền âm nhạc ở một đối tượng mới như thế là dư luận lại phản ứng. Các phản ứng rất trái chiều. Một số luật sư mang cả Luật Sở hữu Trí tuệ (SHTT) hiện hành ra phân tích cũng không đi đến kết luận giống nhau. Người dân, đặc biệt là chủ các cơ sở trên phần lớn đều không đồng tình, vì... chưa bao giờ nghe thấy chuyện như thế, hay chưa bao giờ nhận được thông tin cụ thể trước khi nhận được... giấy đòi tiền của VCPMC.

Văn hóa tôn trọng quyền SHTT

Tại sao việc thu tác quyền âm nhạc ở Việt Nam lại gặp nhiều phản ứng đến thế?

Một mặt, có thể nói do sự hiểu biết chung của người dân về quyền SHTT còn chưa cao, nên chưa thực sự hiểu rõ nguyên tắc hoạt động của việc thu tác quyền âm nhạc tại các cơ sở nói trên. Điều này không có gì đáng ngạc nhiên, vì Việt Nam là nước có kinh nghiệm rất ít ỏi trong vấn đề bảo vệ quyền SHTT. Nên nhớ Việt Nam mới có chừng mười năm áp dụng Luật SHTT (luật thông qua vào năm 2005, sửa đổi năm 2009) trong khi ở các nước phát triển phương Tây, lịch sử bảo vệ quyền SHTT bắt đầu từ cách đây... mấy trăm năm như ở Anh là vào năm 1710 hay ở Pháp chỉ vài năm sau Cách mạng Pháp 1789. Vì thế, người dân các nước phương Tây thấm nhuần văn hóa tôn trọng quyền SHTT, đặc biệt là bản quyền. Thậm chí, ở phương Tây, người ta quen gọi tác giả bằng từ “creator” (tiếng Anh)/ “créateur” (tiếng Pháp) - từ trong lịch sử vốn để chỉ Chúa Trời, Đấng sáng thế trong Thiên Chúa Giáo - để so sánh việc tác giả tạo ra tác phẩm cũng tương đương với Chúa trời tạo ra trái đất. Ngược lại, người Việt Nam không có quá trình phát triển văn hóa gắn liền với khái niệm quyền SHTT như ở phương Tây, vì thế nhiều khái niệm còn vô cùng mới mẻ, đến mức nhiều người cho rằng thu tác quyền âm nhạc là... bất hợp lý, không công bằng.

Trong khi đó, tác phẩm âm nhạc là loại hình tác phẩm được khai thác ở phạm vi sâu rộng, điều này có thể thấy qua việc sử dụng các tác phẩm âm nhạc không chỉ ở nơi riêng tư như tại nhà mà còn rất phổ biến ở nơi công cộng như siêu thị, quán cà phê, quán karaoke, khách sạn, nhà nghỉ, hay thậm chí như... nhạc chờ điện thoại của tổng đài, hay trong phòng chờ khám bệnh của bác sĩ. Về nguyên tắc, việc khai thác một tác phẩm âm nhạc đang được bảo hộ sẽ phải có sự đồng ý của tác giả hay người sở hữu quyền tác giả, hoặc trả tiền tác quyền âm nhạc cho tác giả hay cho người sở hữu quyền tác giả trên tác phẩm âm nhạc đó. Một số trường hợp ngoại lệ được quy định cụ thể trong luật, ví dụ như có thể sao chép một bản để dùng cho mục đích nghiên cứu học tập cá nhân, hay ngoại lệ trong việc hỗ trợ cho người khiếm thị chẳng hạn. Khi khai thác tác phẩm âm nhạc tại các cơ sở kể trên để phục vụ khách hàng, tức là có mục đích thúc đẩy kinh doanh, rõ ràng không nằm trong các ngoại lệ mà luật quy định. Cơ quan đại diện cho các tác giả tác phẩm âm nhạc và có thẩm quyền thu tác quyền trong các trường hợp này là VCPMC, vì thế cơ quan này có cơ sở pháp lý để tiến hành thu tác quyền âm nhạc.

Mặt khác, việc thu tác quyền âm nhạc tại các cơ sở này thế nào để cho đúng luật, hợp lý, lại là một chuyện khác.

Không sai nhưng không phải lúc nào cũng đúng

So với luật của các nước phát triển, thì Luật SHTT của Việt Nam còn chưa quy định một cách rõ ràng việc thu tác quyền trong các trường hợp này, nên gây ra tình trạng về nguyên tắc thì VCPMC không sai, nhưng cách áp dụng cụ thể thì không phải luôn đúng.

Thứ nhất là về mặt cơ sở pháp lý, có thể nói, việc VCPMC thu tác quyền âm nhạc tại các quán cà phê, karaoke mà sử dụng băng đĩa, bản ghi âm để phục vụ khách hàng là đúng. Khoản 2 điều 33 Luật SHTT đã sửa đổi có quy định rõ: “Tổ chức, cá nhân sử dụng bản ghi âm, ghi hình đã công bố trong hoạt động kinh doanh, thương mại không phải xin phép, nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao theo thỏa thuận cho tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng kể từ khi sử dụng; trường hợp không thỏa thuận được thì thực hiện theo quy định của Chính phủ hoặc khởi kiện tại tòa án theo quy định của pháp luật”. Điều khoản này đã khá rõ ràng để VCPMC thực hiện việc thu tác quyền âm nhạc tại các nơi sử dụng băng đĩa, bản ghi hình để phục vụ khách hàng.

Tuy nhiên, việc VCPMC có dự định “đếm đầu ti vi” để thu tác quyền âm nhạc tại các khách sạn, nhà nghỉ thì ở thời điểm hiện tại khó có thể khẳng định chắc chắn là đúng luật hay không. Khoản 3, điều 20 của Luật SHTT quy định rằng tổ chức cá nhân phải xin phép và trả tiền thù lao cho tác giả hay cho người sở hữu quyền tác giả nếu như thực hiện một trong các quyền tài sản trên tác phẩm, trong đó có quyền “truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác”. Một số người hiểu điều khoản này chỉ áp dụng cho... đài truyền hình. Tuy nhiên, cách hiểu này là sai, vì luật không hề nói chỉ có đài truyền hình, mà nói chung mọi hành vi “truyền đạt tác phẩm đến công chúng” bằng vô tuyến hay qua Internet là phải xin phép và trả thù lao cho tác giả. Việc khách sạn, nhà nghỉ có vô tuyến truyền hình chiếu các chương trình ca nhạc cho khách xem để thêm phần thu hút khách là rõ ràng nằm trong phạm vi áp dụng của quy định này. Như thế, có thể nói thu tác quyền âm nhạc của các khách sạn, nhà hàng có ti vi phục vụ khách hàng về nguyên tắc là đúng. Tuy nhiên, việc “đếm đầu ti vi” để tính tiền tác quyền thì chưa chắc đã đúng, bởi vì luật quy định rằng chỉ khi nào truyền đạt tác phẩm “cho công chúng” thì mới cần phải trả tiền tác quyền. Vậy cần phải phân biệt khi nào thì khách hàng được coi là “công chúng” và khi nào thì không được coi là “công chúng”. Đáng tiếc là hiện nay luật Việt Nam chưa có câu trả lời rõ ràng, nên cũng không thể kết luận chắc chắn là cách làm như thế của VCPMC là đúng hay sai.

Nước ngoài đã làm thế nào mà không bị phản ứng

Có thể tham khảo một số kinh nghiệm của các nước phát triển trong vấn đề này. Ví dụ như ở Pháp, câu hỏi khi nào khách hàng được coi là công chúng đã từng đặt ra cách đây hơn 20 năm. Năm 1994, Tòa án tối cao của Pháp đã kết luận rằng việc khách sạn có ti vi trong mỗi phòng để chiếu phục vụ khách hàng các chương trình truyền hình được coi là hành động “truyền đạt tác phẩm cho công chúng”, và vì thế phải trả tiền tác quyền. Điều đó có nghĩa là cho dù ti vi đặt trong phòng riêng của khách, thì tập hợp các khách hàng của khách sạn vẫn tạo thành “công chúng” như khái niệm quy định trong luật. Tuy nhiên, gần đây, tòa án của Liên hiệp châu Âu (mà các quốc gia thành viên phải tuân thủ phán quyết) lại đưa ra cách giải thích hơi khác một chút về khái niệm “truyền đạt tác phẩm cho công chúng”. Theo tòa án này thì cần phải xem xét các yếu tố như số lượng khách hàng (nếu như số lượng khách hàng quá ít thì không thể coi là “công chúng”), số lượng khách hàng thực sự sử dụng ti vi để xem ca nhạc. Không chỉ thế, cũng cần đánh giá tác động của việc truyền đạt tác phẩm tới việc thu hút khách hàng (ví dụ như phát nhạc trong phòng chờ của một phòng khám nha khoa thì không có tác dụng thu hút khách đến chữa răng, nên không coi khách hàng ở đây là “công chúng”), hay việc ti vi trong khách sạn cho phép khách hàng xem các chương trình trả tiền (mà bình thường ra về nguyên tắc khách hàng sẽ không thể xem được nếu không ở trong khách sạn) để có thể quyết định xem có tồn tại hành vi “truyền đạt tác phẩm tới công chúng” cần phải xin phép và trả tiền tác quyền hay không. Vì thế, đối với mỗi trường hợp cụ thể, cần có cách tính tiền tác quyền một cách hợp lý, dựa vào các tiêu chí trên.

Hơn nữa, ở các nước trong Liên hiệp châu Âu, mức tác quyền phải trả sẽ được tính toán trong thỏa thuận giữa cơ sở kinh doanh với cơ quan có thẩm quyền quản lý tác quyền cho các tác giả, và trên một ba-rem đã được luật quy định từ trước, để các cơ sở kinh doanh trên hoàn toàn dự đoán được khoản tiền tác quyền mà cơ sở sẽ phải trả, đồng thời tránh tình trạng cơ quan đại diện cho các tác giả áp mức tác quyền không hợp lý. Ngược lại, ở Việt Nam, điều khiến nhiều người không đồng tình là VCPMC chưa có thỏa thuận gì với các cơ sở kinh doanh trên nhưng đã tự áp mức thu, và trên cơ sở rất... tùy hứng. Cũng cần phải nói thêm rằng tuy Chính Phủ đã có quy định tại Nghị định 85/2011 về phương thức thanh toán nhuận bút có quy định “Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành biểu giá, phương thức thanh toán nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất theo quy định tại khoản 2 điều 33 của Luật SHTT đã được sửa đổi, bổ sung” nhưng hiện nay vẫn chưa có biểu giá cụ thể. Những thiếu sót này vừa làm cho VCPMC không thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ quyền SHTT các tác giả, lại vừa gây khó chịu, ác cảm với VCPMC trong dư luận.

Vì thế, để tạo điều kiện cho VCPMC bảo vệ tốt hơn quyền SHTT của các tác giả tác phẩm âm nhạc, các cơ quan chức năng của Việt Nam cần nhanh chóng tham khảo kinh nghiệm nước ngoài để đưa ra các quy định hướng dẫn áp dụng luật liên quan đến tác quyền âm nhạc một cách cụ thể, rõ ràng và hợp lý hơn. Bởi vì, trong thời đại ngày nay khi quyền SHTT đóng vai trò càng ngày càng quan trọng, Luật SHTT mà còn bất cập, đi sau thời đại sẽ gây ra cản trở sự phát triển chung của toàn xã hội.

(*)Thành viên Hội các nhà khoa học và chuyên gia Việt Nam tại Pháp

Chia sẻ:
   
CÙNG CHUYÊN MỤC
>>Xem thêm chuyên mục khác:
© 2012 - 2015 Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online.