Phía sau bức tranh tăng trưởng
Thứ Sáu,  22/12/2017, 13:27 

Phía sau bức tranh tăng trưởng

Tư Giang

Chỉ có khu vực FDI “ăn nên làm ra” nhờ tận dụng được những lợi thế của nền kinh tế Việt Nam, ít bị trói buộc bởi các thể chế, chính sách trong nước. Trong ảnh: Khách tham quan một triển lãm công nghệ của doanh nghiệp FDI. Ảnh: THÀNH HOA

(TBKTSG) - Tăng trưởng kinh tế, theo báo cáo, sẽ đạt mức kỷ lục 6,7% trong năm nay sau thời gian dài trầm lắng với bất ổn vĩ mô và nợ xấu. Song, thật kỳ lạ, giới chuyên gia kinh tế hàng đầu Việt Nam lại không nhìn vào con số đó.

Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam Trần Đình Thiên tỏ ra không lạc quan với khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), dù khu vực này đang là điểm sáng nhất của nền kinh tế. Ông khẳng định, trong bốn động cơ tăng trưởng của Việt Nam (bao gồm kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân, nông nghiệp và FDI), chỉ có khu vực FDI “ăn nên làm ra” nhờ tận dụng được những lợi thế của nền kinh tế Việt Nam, ít bị trói buộc bởi các thể chế, chính sách trong nước. Nhận định của ông Thiên đưa ra năm 2017 và trùng lắp với những nhận định từ cuối năm 2013 của nhóm học giả Fulbright. Bốn năm trôi qua tình hình vẫn chưa cải thiện.

Ông Thiên có đủ luận cứ để lo lắng. Tỷ trọng xuất khẩu của khu vực FDI tăng nhanh, từ 57% năm 2005 lên 72% năm nay. Dù áp đảo các khu vực nội địa, nhưng đóng góp giá trị gia tăng vào GDP tăng rất ít, từ 15,2% năm 2005 lên 18,7% năm ngoái. Điều này chứng tỏ, tăng trưởng GDP và xuất khẩu gia tăng lệ thuộc vào khu vực FDI. “Họ tăng xuất khẩu, nhưng cũng lại kích thích nhập khẩu, và là nguyên nhân chính của thâm hụt thương mại kéo dài”, ông Thiên khẳng định. Trong khi đó, trình độ công nghệ của khu vực FDI thấp và dừng lâu ở gia công, lắp ráp.

Tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh từ trường Đại học Fulbright bổ sung thêm: “Chúng tôi tiến hành nghiên cứu về Intel và Samsung thì thấy kết quả thật đáng thất vọng”, ông nói tại một hội thảo về tái cơ cấu kinh tế cuối tuần trước ở Hà Nội.  Intel sau 10 năm không hề có tác động lan tỏa, giá trị gia tăng dưới 10%. Các nhà cung ứng cho Samsung kể cả trong việc cung cấp suất ăn, xử lý rác thải cũng của Hàn Quốc. Sức lan tỏa về công nghệ của Samsung đến nền kinh tế rất hạn chế, thấp hơn so với kỳ vọng tạo ra ngành công nghiệp điện tử cho Việt Nam. “Ưu tiên chiến lược chỉ dừng trên ngôn từ”, ông Tự Anh nhận xét.

Lĩnh vực FDI “ăn nên làm ra” nhất mà còn như vậy, huống hồ các khu vực khác. Ông Thiên nói: “Nếu bỏ khu vực FDI sang một bên và chỉ phân tích ba khu vực còn lại thì bức tranh kinh tế Việt Nam sẽ ít tươi sáng hơn nhiều. Nguyên nhân chủ yếu là do ta, không phải do tác động từ bên ngoài”. Ông nhận xét, tăng trưởng GDP hàng năm có vẻ tốt, nhưng tăng trưởng dài hạn có vấn đề, cơ cấu ít thay đổi, nền kinh tế chậm trưởng thành, và doanh nghiệp Việt Nam chậm lớn, khó lớn.

Việt Nam không nên tốn thời gian và công sức đi tìm động lực phát triển mới do khi xây dựng các đề án tái cơ cấu đã nói rất rõ về ba đột phá là thể chế, cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực. Chúng ta phải xây nhà từ móng nhưng tiếc là ba móng này vẫn còn quá yếu.

Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương Nguyễn Đình Cung là một trong những người hiểu biết nhất trình trạng này. Theo ông Cung, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam có xu hướng giảm dần, từ tốc độ tăng trưởng trung bình 7,3% của giai đoạn 1990-2000 xuống còn 6,7% trong giai đoạn 2001-2010 và bình quân 5,96% cho giai đoạn 2011-2016. Như vậy, tăng trưởng đã giảm khá nhanh và nếu tiếp tục xu hướng này, Việt Nam sẽ mất nhiều thời gian hơn để thu hẹp khoảng cách với các nước trong khu vực. Nếu chỉ duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 6%/năm thì ước tính Việt Nam phải mất gần 20 năm nữa mới đạt mức thu nhập bình quân đầu người của Malaysia năm 2010 và hơn 10 năm nữa mới bằng Thái Lan năm 2010.

Chuyên gia kinh tế Trần Du Lịch đặt câu hỏi: Tại sao năm 2017 dự kiến GDP tăng 6,7% và cũng có khả năng cao hơn, nhưng năm 2018 vẫn chỉ có thể đặt ra mục tiêu tăng GDP từ 6,5-6,7%? Động lực nào để nền kinh tế nước ta phục hồi tốc độ tăng trưởng, chấm dứt thời kỳ suy giảm và liệu có đạt được tốc độ tăng trưởng bình quân 6,5-7%/năm trong kế hoạch năm năm 2016-2020 không?

Theo ông Thiên, động lực tăng trưởng cũ đã cạn kiệt, ta lại chậm thay mới động lực tăng trưởng. Bên cạnh đó, các chương trình tái cơ cấu kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng không đạt kết quả suốt 7-8 năm qua qua, mà chỉ tập trung “tháo gỡ, chỉnh sửa, nâng cấp” để “tận khai” mô hình cũ, chậm chuyển sang cơ chế thị trường bình thường. “Nếu chúng ta cứ tập trung cãi nhau 0,1-0,2 điểm phần trăm tăng trưởng có được không, do động lực nào, thì rõ ràng tăng trưởng dài hạn trở thành thế yếu trong tranh luận và chính sách”, ông Thiên nói. Ông cho rằng vẫn phải tiến hành “đổi mới lần 2” theo hướng thay triệt để cơ chế xin - cho mang tính bao cấp bằng cơ chế và động lực thị trường.

Tiến sĩ Lê Đăng Doanh đồng tình: “Việt Nam đang đứng trước công cuộc đổi mới lần 2. Công cuộc đổi mới lần này vừa phức tạp hơn vừa khó khăn hơn cuộc đổi mới lần trước”. Ông lý giải, Việt Nam đang đứng trước bước ngoặt phải có cải cách thể chế mạnh mẽ khi tiến hành hội nhập. Lý do là nền kinh tế đã hội nhập rất sâu rộng, nhưng thể chế kinh tế thị trường và cạnh tranh đều chưa đáp ứng được yêu cầu và tiêu chuẩn quốc tế.

Tiến sĩ Tự Anh nhận xét, lẽ ra Việt Nam nên theo đuổi thể chế dung hợp (inclusive) thay vì thể chế chiếm đoạt (abstractive). Ông giải thích, thể chế dung hợp phục vụ số đông sẽ giúp cho tăng trưởng kinh tế hài hòa hơn. Tuy nhiên, chính sách của Việt Nam lại không dung hợp và hay phục vụ một nhóm nhỏ. Theo ông Tự Anh, nhiều chính sách được thiết kế để dung dưỡng các đại gia bất động sản, chủ đầu tư dự án BOT mọc lên tràn lan thời gian qua... “Vì thế, những chính sách đó đã tước đoạt cơ hội của số đông”, ông nói.

Ông Tự Anh nhận xét, cần ưu tiên cải cách là xác lập thể chế theo hướng dung hợp, thể chế thị trường và nhà nước đều cần phải thay đổi. Ông nói: “Nếu chọn chỉ một ưu tiên thì tôi ưu tiên cải cách bộ máy đang thực hiện cải cách. Không làm được điều này, không cải cách thể chế khung thì điều nói ngày hôm nay sẽ lặp lại 10-15 năm nữa”. Ông Trần Du Lịch đồng ý: “Cần đồng bộ về thể chế, cần  cải cách thể chế kinh tế gắn với nền hành chính công và tài chính công”. Ông giải thích, Quốc hội sửa Hiến pháp, ban hành hàng trăm đạo luật nhưng thể chế vẫn không hoàn hảo vì phải thông qua bộ máy, con người;  “còn bộ máy như thế này thì chính sách không thể đi vào cuộc sống được”. Ông Lịch bổ sung thêm, Việt Nam không nên tốn thời gian và công sức đi tìm động lực phát triển mới do khi xây dựng các đề án tái cơ cấu đã nói rất rõ về ba đột phá là thể chế, cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực. “Chúng ta phải xây nhà từ móng nhưng tiếc là ba móng này vẫn còn quá yếu”.

Chia sẻ:
   
CÙNG CHUYÊN MỤC
Giấy phép Báo điện tử số: 2302/GP-BTTTT, cấp ngày 29/11/2012