Gian nan chống hàng giả trong kinh doanh trực tuyến
Thứ Hai,  12/2/2018, 08:32 

Gian nan chống hàng giả trong kinh doanh trực tuyến

Ngọc Ánh

(TBVTSG) - Trung tuần tháng 1-2018, Alibaba, người khổng lồ trong lĩnh vực thương mại điện tử của Trung Quốc, đã gây sự chú ý nơi cộng đồng khi tuyên bố đã đóng cửa 240.000 gian hàng trực tuyến buôn bán các loại hàng hóa giả mạo trong một năm qua.

Theo một bảng thông báo vào trung tuần tháng 1-2018 vừa qua của Alibaba, hãng đã cung cấp thông tin cho các cơ quan an ninh Trung Quốc về những sản phẩm giả mạo, qua đó giúp bắt giữ 1.606 nghi phạm ở nước này. Không chỉ Alibaba mà nhiều công ty thương mại điện tử khác đã và đang tham gia vào cuộc chiến chống hàng giả đều thừa nhận cuộc chiến này luôn đầy gian nan.

Sức ép của việc xóa bỏ tiếng xấu

Alibaba khẳng định với vai trò là một trong những nền tảng bán lẻ trực tuyến lớn nhất thế giới, tập đoàn này cam kết tham gia nghiêm túc vào cuộc chiến chống hàng giả và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.

Từ tháng 1-2017, Alibaba đã gia nhập “liên minh đấu tranh chống hàng giả thông qua phân tích dữ liệu lớn” gồm 20 thương hiệu. Đến nay, liên minh này đã thu hút sự tham gia của 30 thương hiệu.

Lời thông báo nói trên của Alibaba được đưa ra sau khi Văn phòng Đại diện Thương mại Mỹ (USTR) ngày 12-1 đã đưa trang web thương mại trực tuyến Taobao.com của tập đoàn này, cùng với tám khu chợ khác của Trung Quốc, trong đó có hai khu chợ truyền thống tại thành phố Bắc Kinh là Tú Thủy và Hồng Kiều, vào danh sách “Những thị trường có tiếng xấu năm 2017” (2017 Out-of-Cycle Review of Notorious Markets) do thường xuyên diễn ra các hoạt động buôn bán hàng hóa giả mạo và vi phạm quyền sở hữu trí tuệ. Đây cũng là năm thứ hai liên tiếp Taobao có tên trong danh sách này.

Theo tờ The Japan News, tuy không bị hình phạt trực tiếp nào khi có tên trong “danh sách đen”, nhưng điều này cũng khiến các trang web bán hàng của tập đoàn Alibaba bị mang tiếng là bán nhiều hàng giả và không có chính sách chống hàng giả nào nhằm bảo vệ khách hàng.

USTR cho biết: “Một số lượng lớn các sản phẩm đã được thông báo là vi phạm nhưng vẫn tiếp tục được chào bán trên Taobao.com”. USTR cũng ghi nhận nỗ lực hạn chế bán hàng giả của Taobao, nhưng đánh giá rằng: “Việc phân loại và bán hàng vi phạm trên trang này vẫn đang là một sự thách thức”.

Liên quan đến vụ việc, Alibaba đã lên tiếng khẳng định tập đoàn này có sử dụng chương trình bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, số lượng đăng ký áp dụng chương trình này trên Taobao tăng thêm 11%, và số yêu cầu gỡ bỏ sản phẩm vi phạm đã giảm 25%.

Michael Evans, Chủ tịch Alibaba, cho biết: “Về chuyện này, rõ ràng là bất kể chúng tôi có hành động và bước tiến triển gì, USTR vẫn không thực sự quan tâm đến những kết quả hữu hình. Do đó, việc chúng tôi bị đưa vào danh sách nói trên không phải là minh chứng chính xác cho thành quả của Alibaba trong công tác bảo vệ các nhãn hàng và quyền sở hữu trí tuệ, và chúng tôi không còn cách nào khác ngoài kết luận quyết định của USTR có khiếm khuyết và mang tính chính trị”.

Trước đó, năm 2011, Taobao lần đầu tiên bị đưa vào danh sách đen, nhưng đã được rút ra khỏi danh sách này vào năm 2012 nhờ những nỗ lực đấu tranh chống nạn buôn bán hàng giả một cách có hiệu quả. Trong giai đoạn 2012-2015, Taobao không bị đưa vào “danh sách đen”, nhưng đến năm 2016 và 2017 lại có tên.

Nỗ lực ứng dụng công nghệ mới

Công nghệ lưu trữ thông tin kỹ thuật số được xem là nền tảng của bitcoin đang được các công ty thương mại điện tử Trung Quốc sử dụng để chống lại vấn đề thực phẩm giả.

Theo TechinAsia, nước tương cùng gạo, rượu vang và trứng lâu nay luôn được xem là những mặt hàng thực phẩm tiềm ẩn nhiều nguy cơ làm giả tại quốc gia đông dân nhất thế giới này. Tuy nhiên gần đây, các doanh nghiệp hàng đầu như Alibaba và JD đã tìm ra biện pháp mới để chống lại vấn nạn này, đó là sử dụng công nghệ blockchain để phát hiện nguồn gốc thực phẩm.

Dự án này bắt đầu từ chương trình Blockchain IBM-Walmart được khởi động hồi giữa năm ngoái tại Mỹ. Bridget van Kralingen, Phó chủ tịch cấp cao của IBM Industry Platforms, một trong những đối tác của JD, chia sẻ:

“Blockchain có thể mang lại sự minh bạch cần thiết để giúp thúc đẩy vấn đề an toàn thực phẩm trong toàn bộ chuỗi cung ứng”.

JD vào tháng 12-2017 đã tuyên bố việc thử nghiệm có thể áp dụng lên các thực phẩm như thịt lợn và trái cây, khi chúng được lưu thông từ chuỗi cung ứng tới khi lên các kệ hàng. Tuy nhiên, hiện tại, người mua hàng chưa thể chạm tay vào hệ thống này để xác thực các hàng hóa ở các cửa hiệu bán lẻ.

Thay vào đó, chương trình sẽ tập hợp tất cả dữ liệu về chuỗi cung ứng thực phẩm – thứ thường bị phân mảnh trên các hệ thống khác nhau, thậm chí một số dữ liệu vẫn còn được lưu trên giấy – vào một hệ thống blockchain minh bạch và có thể truy xuất được cho các nhà bán lẻ và người bán tạp phẩm cả theo hình thức trực tuyến và ngoại tuyến.

Geoff Jiang, Phó giám đốc của Ant Financial, cho biết nguy cơ làm hàng giả sẽ giảm xuống bởi chi phí của quá trình sao chép sẽ rất cao. Phòng thí nghiệm của công ty công nghệ tài chính (fintech) trực thuộc Alibaba này đang phát triển giải pháp blockchain cho chuỗi cung ứng của cả tập đoàn. Ông nói rằng trong tình huống một sản phẩm làm giả được tìm thấy, họ có thể theo dõi ngược và tìm ra thủ phạm.

Để làm được điều đó, các công ty thương mại điện tử sẽ sử dụng mã QR (QR Code) và thiết bị đọc mã vạch (RFID), ví dụ chip NFC, tùy thuộc vào nhu cầu của các thương hiệu. Mỗi sản phẩm sẽ có một cuốn hộ chiếu điện tử, ghi lại quá trình vận chuyển qua từng đơn vị trong chuỗi cung ứng.

Mỗi khi sản phẩm thay đổi từ nhà máy sang kho, nhân viên quét mã hoặc thẻ, ghi lại vị trí và đánh dấu thời gian.

Khi tới tay khách hàng, người sử dụng có thể quét để xem lịch sử của sản phẩm và xác minh nguồn gốc của nó thông qua phần mềm ứng dụng của JD hoặc qua Alipay. Trong quá trình này, nhiều bên có thể chia sẻ và cập nhật thông tin lên sản phẩm như nhà sản xuất, công ty hậu cần, nhà bán lẻ, khách hàng... Những người muốn làm hàng giả khi đó sẽ phải đối mặt với việc giả mạo cả một cơ sở hạ tầng kỹ thuật đằng sau, chứ không chỉ riêng việc sao chép lại sản phẩm hoặc bao bì.

Ví dụ, thông tin mà khách hàng nhìn thấy trên một miếng thịt bò sẽ là chế độ ăn uống của con bò, trọng lượng, giống, thậm chí tên bác sĩ thú y đã từng theo dõi sức khỏe cho nó và nhiều thứ khác. Tất nhiên, với rất nhiều bên có liên quan, quá trình hợp tác có thể sẽ rất phức tạp. Đặc biệt, khi có một đơn vị trong chuỗi cung ứng không hỗ trợ hệ thống mới này. Ngoài ra, một số công ty cạnh tranh nhau sẽ không muốn chia sẻ các dữ liệu nhạy cảm.

Hiện tại, JD có lợi thế bởi công ty gần như kiểm soát hoàn toàn chuỗi cung ứng trong khi Alibaba sử dụng các công ty hậu cần của bên thứ ba. Tuy nhiên, về mặt công nghệ, hệ thống Alipay lại có thể xử lý khối lượng giao dịch lên tới 120.000 lượt mỗi giây, điều mà các đối thủ chưa thể cạnh tranh.

Haibo Sun, Giám đốc mảng Nghiên cứu và Phát triển blockchain tại JD, cho biết trong tương lai nhu cầu về công nghệ mới này sẽ càng tăng lên. “Mọi người đều có mong muốn truy xuất nguồn gốc của các loại thực phẩm như sữa, rượu, các mặt hàng xa xỉ... Tất cả đều ngày càng quan tâm hơn tới vấn đề chất lượng, đặc biệt là ở Trung Quốc”.

Cuộc chiến chống hàng giả trên mạng ở Việt Nam

Trong thời gian qua, tình trạng hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng được rao bán, đánh lừa người tiêu dùng trên các sàn thương mại điện tử hoặc trang web mua bán trực tuyến đang gia tăng nhanh chóng.

Sự phổ biến của các sàn thương mại điện tử trong và ngoài nước ở Việt Nam, cùng với phương thức thanh toán linh hoạt, tiện lợi đã khiến người tiêu dùng ngày càng ưa chuộng hình thức mua bán trực tuyến, nhất là người tiêu dùng trẻ ở các đô thị lớn. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 (công nghiệp 4.0), với nền tảng công nghệ số, cũng khiến thị trường thương mại điện tử ngày càng được mở rộng với các mô hình mới, thông minh hơn và hữu hiệu hơn.

Theo kết quả thống kê của hãng nghiên cứu thị trường eMarketer, doanh thu thương mại điện tử bán lẻ toàn cầu (Business-to-Customer – B2C) năm 2016 đạt xấp xỉ 1.915 tỉ đô la Mỹ, với mức tăng trưởng 23,7%. Chỉ tính riêng 10 năm qua, thương mại điện tử toàn cầu tăng trưởng trung bình 20% mỗi năm.

Việt Nam không nằm ngoài xu hướng của thế giới khi thị trường thương mại điện tử cũng tăng trưởng nhanh chóng với hàng ngàn trang web mua bán trực tuyến được cho ra đời mỗi năm. Theo thống kê của Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số thuộc Bộ Công Thương, giá trị mua hàng trực tuyến của một người đạt bình quân 170 đô la (hơn 3,86 triệu đồng) vào năm 2016, doanh số thương mại điện tử bán lẻ đạt khoảng 5 tỉ đô la, tăng 23% so với năm 2015.

Với rất nhiều lợi thế, thương mại điện tử có xu hướng phát triển mạnh mẽ tại Việt Nam. Tuy nhiên, sự phát triển quá nhanh của loại hình giao dịch này dễ làm nảy sinh những kiểu kinh doanh biến tướng, mang lại sự rủi ro cho người tiêu dùng.

Theo dữ liệu về khiếu nại trong năm 2016 và quý 1-2017 của Cục Quản lý cạnh tranh, Bộ Công Thương, tình trạng vi phạm quyền lợi người tiêu dùng trong hình thức mua sắm trực tuyến diễn ra khá thường xuyên và ngày càng gia tăng. Cụ thể, khoảng 10% số vụ khiếu nại liên quan hoạt động mua bán trực tuyến, và rủi ro đều thuộc về người tiêu dùng. Trong đó, nạn hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng là một trong những mối nguy cơ lớn nhất.

Tình trạng bán hàng không đúng chất lượng như lời giới thiệu xảy ra khá thường xuyên, khiến cho nhiều người tiêu dùng dần mất niềm tin vào hình thức mua bán trên mạng. Có trường hợp còn lợi dụng hoạt động mua bán trực tuyến để lừa đảo, chủ yếu thông qua các giao dịch trên mạng xã hội như Facebook,... Chưa kể, tình trạng này không chỉ gây ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi, niềm tin của người tiêu dùng mà còn là một trong những nguyên nhân gây kìm hãm sự phát triển của lĩnh vực này. Vì thế, dù có rất nhiều điều kiện để thương mại điện tử phát triển có hiệu quả nhưng tỷ trọng thương mại điện tử trong tổng doanh thu của thị trường bán lẻ của Việt Nam mới đạt khoảng 2,8% – con số khá thấp so với mức trung bình của cả khu vực châu Á-Thái Bình Dương là 12,1%.

Trong thời gian qua, những vụ vi phạm trong lĩnh vực thương mại điện tử ngày càng gia tăng. Riêng năm 2016 có gần 180 trường hợp bị xử phạt vi phạm hành chính với tổng số tiền hơn 4 tỉ đồng. Phần lớn nguyên nhân của những trường hợp bị phạt là do các trang thương mại điện tử chưa kiểm soát chặt nguồn hàng; quản lý hàng hóa từ phía đối tác bán hàng chưa nghiêm; việc quản lý hoạt động cũng còn tồn tại nhiều bất cập như: sự nhận thức và hiểu biết của nhiều người về thương mại điện tử chưa cao, chưa có cán bộ có đủ trình độ về thương mại điện tử cũng như chống xâm phạm sở hữu trí tuệ trong môi trường thương mại điện tử...

Về phía người tiêu dùng, do nét đặc trưng của loại hình thương mại điện tử là việc mua bán diễn ra trên môi trường Internet, không giao dịch trực tiếp cho nên rất khó có thể thẩm định đúng chất lượng sản phẩm trước khi mua hàng.

Nhiều điều khoản về trả lại hàng không đúng chất lượng, mẫu mã dễ bị bỏ qua.

Trước thực trạng nêu trên, các cơ quan chức năng đã đưa ra và thực hiện nhiều biện pháp chống nạn hàng giả, hàng nhái trong thương mại điện tử. Tuy nhiên, hiệu quả chưa thật sự đáp ứng được sự kỳ vọng của người tiêu dùng.

Vừa qua, Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số đã đề nghị các thương nhân, tổ chức và cá nhân thực hiện các biện pháp kiểm tra và gỡ bỏ các sản phẩm bị cho là vi phạm trên trang web thương mại điện tử; triển khai các biện pháp ngăn chặn và ngăn việc tái xuất hiện của các thông tin về sản phẩm vi phạm pháp luật trên trang web thương mại điện tử hoặc ứng dụng di động. Cơ quan này cho biết sẽ “mạnh tay” với các doanh nghiệp sở hữu sàn thương mại điện tử nếu họ không thực hiện nghĩa vụ của mình về chống hành giả trong thời gian sắp tới.

TIN BÀI LIÊN QUAN
Chia sẻ:
   
CÙNG CHUYÊN MỤC
Giấy phép Báo điện tử số: 2302/GP-BTTTT, cấp ngày 29/11/2012