Xanh rợn chân trời màu hội nhập
Chủ Nhật,  25/2/2018, 11:13 

Xanh rợn chân trời màu hội nhập

Bình Vương

(TBKTSG Xuân AL) - Có ai yêu thích Truyện Kiều của Nguyễn Du mà không nhớ câu “Cỏ non xanh rợn chân trời/Cành lê trắng điểm một vài bông hoa” tả về tiết Thanh minh chị em nàng Kiều đi lễ hội? Nhưng đó là cảnh quan ước lệ trong câu chuyện từ thời Gia Tĩnh triều Minh bên xứ Trung Hoa, cụ Nguyễn vẽ hai câu làm nền cho bước chân tao ngộ Kim - Kiều. Chớ thử tìm trong vốn cổ chữ nghĩa Việt Nam mình coi, thật hiếm thấy lời hay ý đẹp về cỏ.

Có lẽ do dân ta ngàn đời vốn thuần nông, “ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ” (Nguyễn Đình Chiểu - Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc) nên không mấy thiện cảm với loài thực vật nhỏ nhoi hoang dại này chăng? Cỏ lăm le xâm lấn ruộng vườn, tranh hút chất màu mỡ, gây thiệt hại về huê lợi, nhất là cho cây lúa chủ lực. Chẳng ngẫu nhiên mà những hành động đàn áp tận diệt đối phương thất thế được người xưa nói gọn trong hai chữ “làm cỏ”. “Làm cỏ, bỏ phân” cũng chính là công việc chăm sóc đồng áng tối thiểu và trước tiên, bởi hiệu quả khi thu hoạch sẽ suy ra “nắm cỏ, giỏ thóc”. Bên lĩnh vực chăn nuôi chưa thành quy mô lớn, chưa ai hình dung ra chuyện trồng cỏ làm thức ăn cho gia súc, bao đời vẫn quen lối nghĩ giản đơn “trời sinh voi sinh cỏ”. Được lưu ý chăng, cũng chỉ là hiện tượng mang tính xã hội tỷ như “trâu già khoái gặm cỏ non”. Luôn rạp dưới chân người, cỏ chỉ thêm chút hữu ích hiếm hoi khi làm bằng chứng cho mối quan hệ đi lại giữa hai bên đã đến mức “mòn đường, chết cỏ”, hoặc tham gia dự báo thời tiết: “Mùa hè đang nắng, cỏ gà trắng thì mưa”. Ôi cái tên cỏ gà, may mắn sao còn sót lại dấu tích trò chơi con nít miền quê xưa, hai đứa ngắt cọng cỏ ngoắc vào nhau giả bộ làm gà chọi!

Đành rằng những ý những lời trên là từ tục ngữ ca dao dân gian, từ một cộng đồng mà nông dân chiếm tuyệt đại đa số. Nhưng trong văn chương được cho là bác học, cũng khó tìm ra dòng ưu ái nào dành cho phận cỏ. Thì đó, trước khi Bà Huyện Thanh Quan ngậm ngùi chia sẻ chút hoài cổ với “lối xưa xe ngựa hồn thu thảo” ở Thăng Long thành, cỏ từng bị nêu tên như một phản đề cho cái hay cái đẹp: “Phượng những tiếc cao, diều hãy liệng/Hoa thì hay héo, cỏ thường tươi”. Tất nhiên chẳng ai trách cụ Nguyễn Trãi đã hạ bút như vậy trong bài thơ Nôm Tự thuật 9. Cụ chỉ mượn các hiện tượng thiên nhiên để nói về nhân tình thế thái, gửi gắm niềm tâm sự rất đời thường của một bậc trí giả, bậc trọng thần từng trải vui buồn vinh nhục. Cho đến vài ba thế kỷ sau, khi người Pháp đặt chân xâm chiếm nước ta, ngoài những tàu sắt tàu đồng với súng đạn và sự hà khắc thực dân, họ cũng mang đến nhiều cái mới cái lạ về cách nhìn cách sống. Mới lạ đến mức gây dị ứng thái quá cho cả giới chí sĩ túc nho. Tương truyền, cụ Tam Nguyên Nguyễn Khuyến được giao làm bài Văn tế Ngạc Nhi (tức Francis Garnier, viên sĩ quan Pháp tử trận năm 1873 ở gần đê La Thành, Hà Nội), cụ đã dùng lời lẽ châm biếm khi mô tả nạn nhân: “Nhớ ông xưa/... Cái tóc ông quăn/Cái mũi ông lõ/Đít ông cưỡi lừa/Mồm ông huýt chó/... Nhà ông bày toàn những chai/Vườn ông trồng toàn những cỏ”. Có thể do căm ghét hành trạng thực dân mà tác giả quá lời chê luôn ngoại hình cùng lối sống Tây dương chăng? Chỉ đến khi các giá trị “tân thời”, “tân học” bắt đầu bén rễ ở những tâm hồn tiểu tư sản thị thành, mới có cơ hội cho những bông cỏ may trên đất thuộc địa bảo hộ được bay lên cùng thơ Nguyễn Bính: “Hồn anh như bông cỏ may/Một chiều cả gió bám đầy áo em”.

Nhưng vừa trải qua thời chống Pháp lại tiếp cuộc trường chinh đánh Mỹ. Dọc dài đất nước cứ binh lửa triền miên, đến ngọn cỏ cũng khó yên thân phận. “Nhất xanh cỏ, nhì đỏ ngực” - hoặc nằm lại với cỏ xanh trên mồ hoặc trở về với ngực đỏ huân chương, đó từng là quyết chí quyết tâm của lớp lớp người nối nhau từ rừng núi Trường Sơn tỏa về đồng bằng đô thị, để lại “dấu chân qua trảng cỏ” trong lời thơ Thanh Thảo năm 1972: “Ai đi gần ai đi xa/Những gì gợi lại chỉ là dấu chân/Vùi trong trảng cỏ thời gian...”. Sau mùa xuân 1975 đã mấy thập niên sống thời hậu chiến, cái “tư duy cỏ” trong xã hội hầu như vẫn trở qua trở lại những mất mát liệt oanh với “cỏ non thành cổ” hay “mùi cỏ cháy” trong nhạc trong phim, cộng hưởng với những ám ảnh chưa nguôi từ di họa của bom napan và chất dioxin diệt cỏ.

Kìa những bảng hiệu, những băng rôn khẩu hiệu về hội nhập giăng mắc đó đây. Có dòng nào chữ nào nhắc nhở chúng ta hội nhập với thế giới hôm nay bằng màu xanh cây cỏ, màu thiên nhiên như là một tiêu chuẩn sống của con người hiện đại?

Tuy nhiên, dù ai yêu ghét mặc lòng, những ngọn cỏ vẫn âm thầm chứng tỏ sức sống bền bỉ và cái phận sự tự nhiên do trời phú. Đất càng bỏ hoang, càng dễ loang màu cỏ, không là biểu trưng no đủ nhưng dẫu sao cũng là màu của yên bình. Để rồi, cho đến khi Việt Nam vào cuộc đổi mới và mở cửa, thì dần dà trong mắt nhìn dân ta trên cả nước, cảnh sống theo lối Tây, trong nhà chưng tủ rượu “toàn những chai”, ngoài vườn xanh xanh thảm cỏ và cảnh chủ nhân “huýt chó” dắt đi dạo mỗi ngày, đã không còn xa lạ nữa. Thời thế đã giúp cỏ đổi thay thân phận. Ngoài nhu cầu làm thức ăn cho các trang trại chăn nuôi với quy mô lớn nhỏ trong phát triển kinh tế nông nghiệp đã quá đương nhiên, hơn chục năm trở lại đây, hàng loạt sân golf, những khu nghỉ dưỡng, khách sạn... đua nhau mọc lên trên dải đất hình chữ S này rất cần đến cỏ. Nhờ đó mà không ít hộ nông dân vốn dòng “ghét cỏ” đã ăn nên làm ra, sống khỏe với công việc chuyên canh cỏ, chăm sóc nâng niu cỏ. Lại có thêm những loài cỏ lạ từ nước ngoài được nhập khẩu, vận chuyển bằng đường hàng không về để nhân giống cho kịp nhu cầu về cỏ chuyên dụng trong nước ngày một tăng cao.

Sống tại các thành phố có mật độ cây xanh và thảm cỏ che phủ rất thấp, cư dân đô thị Việt Nam không bó tay cam chịu. Chí ít là vài ba nhánh xanh lủng lẳng nơi ban công hay len lỏi sâu trong hẻm nhỏ. Thậm chí cho đến hôm nay, tạo dựng khu vườn thảm cỏ trên sân thượng đang được xem là phong cách “chơi sân vườn” độc đáo và đẳng cấp nhà giàu. Đã xuất hiện những quảng cáo mời gọi đầu tư thảm cỏ sân vườn giúp làm “mềm hóa” và tăng tính thẩm mỹ cho những mảng khối nhà ở bê tông xám xịt, với các giải pháp tài chính lẫn kỹ thuật được tư vấn cặn kẽ. Giống loài cỏ lại một phen được ngoạn mục nâng tầm, trở thành một yếu tố quan trọng giúp cải thiện đáng kể chất lượng không khí và môi trường sống của con người nói chung, qua việc hấp thụ CO2, tạo ra O2 cũng như hấp thụ các khí thải độc hại khác hay tiếng ồn, tia bức xạ... Xanh rợn chân trời bao la hay chỉ xanh trùm mảnh sân thượng nhà phố, những thảm cỏ từ đây không chỉ làm “mát mắt” bằng cảm giác thẩm mỹ tâm lý, mà cả về hóa lý. Cũng không ngoa khi có lời nhận xét: chăm sóc cỏ cũng là niềm vui tao nhã giúp con người được sống thân thiện cùng thiên nhiên, chẳng khác việc mỗi ngày gia chủ bỏ công chăm sóc thú cưng trong nhà.

Ở trên vừa nói “không bó tay cam chịu”, nghĩa là cư dân đô thị lâu nay đã phải tự thân tìm giải pháp khắc phục tình trạng bất như ý. Thời của hàng không giá rẻ và du lịch khuyến mãi, song song với du hành qua không gian mạng Internet, dân ta thêm mở rộng tầm nhìn. Không chỉ đi cho biết danh thắng bốn phương với những kỳ hoa dị thảo, nhiều người để ý quan sát cho tỏ tường hơn về cách sống, cách xây dựng gìn giữ môi trường sống của thiên hạ, đặng so sánh với quê hương xứ sở mình. Thì ra, cái đẳng cấp “ở nhà Tây” luôn gắn với vườn Tây, đất vườn chủ yếu chỉ dành cho cỏ cây làm tươi xanh cảnh trí, không ai phải lo chuyện tự túc rau sạch cho nhà mình! Vườn toàn những cỏ, nên chi nhà nào cũng có máy cắt cỏ, thứ mà ở ta chắc chỉ các cơ sở cung cấp dịch vụ về công viên cây xanh mới cần!

Vâng, xứ mình đã và đang có thêm nhiều những khu sân golf, khu nghỉ dưỡng hay khu ở cao cấp. Cùng với đó là nhu cầu phải “nuôi nhốt” những không gian riêng cho chúng, sạch đẹp chẳng kém xứ người. Từng cụm cây thảm cỏ được lao công dịch vụ chiều chuộng nâng niu đặng xứng với khách hàng đã trả giá để được sống trong một hàng rào bảo vệ để cách biệt môi trường bên ngoài. Ra khỏi hàng rào đó, là không gian đại trà cho số đông, là các khu ở đô thị dù tự phát hay không tự phát vẫn không thôi nhuộm vẻ xô bồ nhếch nhác. Thảm cỏ xanh hóa thành thứ xa xỉ, khi mà những khoảng không gian công cộng cứ hiếm hoi dần. Xa xỉ hiếm hoi nhưng chưa hẳn được trân quý, thực trạng đã cho thấy nhiều khoảng xanh “vô tư” biến thành bãi chứa rác, rác sinh hoạt cùng với rác tệ nạn xã hội.

Có một người, trong số những người đã từng để lại “dấu chân qua trảng cỏ” năm nào, hôm nay trầm ngâm bên họa hoằn vuông cỏ công viên giữa phố phường chật chội. Anh chợt rùng mình nhận ra từ lá cỏ đang nhọn sắc những tia nhìn. Có hay không, những công viên cũ mới bị chủ tâm xén bớt, thay vì được quy hoạch chỉnh trang mở rộng? Có hay không, những quy định bắt buộc về tỷ lệ cây xanh trên đầu người, về mật độ xây dựng của từng dự án nhà ở đô thị đang âm thầm bị vô hiệu hóa hay... tự chuyển hóa, chỉ còn là những con số cằn cỗi vô duyên? Và có hay không, sự thiếu hụt không gian xanh, thiếu hụt nơi chốn vui chơi giải trí đã và đang gây hệ lụy tâm lý nhãn tiền: tính khí con người trở nên cục cằn hung dữ, các vụ bạo hành không ghê tay xảy ra ở mọi giới, mọi lứa tuổi, thành chuyện thường ngày?

Kìa những bảng hiệu, những băng rôn khẩu hiệu về hội nhập giăng mắc đó đây. Có dòng nào chữ nào nhắc nhở chúng ta hội nhập với thế giới hôm nay bằng màu xanh cây cỏ, màu thiên nhiên như là một tiêu chuẩn sống của con người hiện đại?

Ám ảnh theo từng bước chân anh, những tia-nhìn-lá-cỏ cứ nhói một màu xanh buốt. 

 

Chia sẻ:
   
CÙNG CHUYÊN MỤC
Giấy phép Báo điện tử số: 2302/GP-BTTTT, cấp ngày 29/11/2012