Hãy nhanh tay mở cửa sổ vàng
Thứ Hai,  19/2/2018, 09:21 

Hãy nhanh tay mở cửa sổ vàng

Minh Tâm

(TBKTSG Xuan AL) - Mỗi ngày, trên thế giới, ngành bán lẻ lại có thêm một chuyện mới xảy ra. Hôm trước là hãng thời trang Uniqlo lắp máy bán hàng tự động ở sân bay. Trước nữa thì gã khổng lồ bán lẻ đồ chơi và vật dụng cho trẻ em của Mỹ có 69 tuổi đời, sở hữu 1.600 cửa hàng trên thế giới, Toy “R” Us đăng ký bảo hộ phá sản. Mới đây là JD.com lên kế hoạch mở hàng ngàn cửa hàng tiện lợi tự động sử dụng công nghệ nhận diện khuôn mặt, đo thân nhiệt để phục vụ khách hàng mà không cần đến nhân viên tại chỗ.

Thị trường bán lẻ Việt thường nhộn nhịp dịp lễ tết nhưng tương lai cũng khó đoán bởi người tiêu dùng sẽ thay đổi thói quen mua sắm. Ảnh: Thành Nguyễn

Ngành bán lẻ đang thay đổi chóng mặt, tương lai ngày càng khó đoán bởi người tiêu dùng thay đổi thói quen mua sắm và công nghệ phát triển như vũ bão. Những thành trì trăm năm có thể sụp đổ nhưng những mô hình kinh doanh mới có thể chỉ mất vài năm để dựng nên một đế chế. Với Việt Nam, những làn sóng mới cũng đang hình thành vì không ai, không quốc gia nào có thể đi ngược xu thế. Tuy nhiên, vẫn còn đó rất nhiều khó khăn, trở ngại mà không phải có tiền là có thể giải quyết.

Những gợn sóng lăn tăn

Tính đến thời điểm hiện tại, sau hơn một tháng chính thức ra mắt cửa hàng đầu tiên nằm trên đường Mạc Thị Bưởi, quận 1, chuỗi cửa hàng tự động không người bán Toromart của Công ty cổ phần Kootoro Services (Mỹ) đã có thêm hai điểm mới tại TPHCM. Một ở tòa nhà Bitexco và một nằm tại Đại học Tôn Đức Thắng. Tại các điểm bán này, khách hàng chỉ cần chạm tay vào màn hình để chọn sản phẩm cần mua (là các mặt hàng tiêu dùng nhanh) rồi quét mã QR trên chiếc điện thoại thông minh đã cài ứng dụng ví điện tử Toro, có kết nối Internet là thanh toán xong, không cần phải quẹt thẻ ngân hàng hay đưa tiền mặt cho cô thu ngân.

Làn sóng “cửa hàng tự động không người bán” vốn đã phát triển ở nhiều nước châu Á có trình độ công nghệ phát triển như Nhật Bản, Hàn Quốc cuối cùng đã lan tới Việt Nam dù vẫn có nhiều điểm tùy biến để phù hợp với môi trường như có một bảo vệ trông giữ xe khách; một nhân viên để hỗ trợ, hướng dẫn mua hàng (tùy điểm). Cửa hàng tự động Toromart được xem là làn gió mới thổi vào ngành bán lẻ Việt Nam vốn được coi là rất nhiều tiềm năng nhưng kênh hiện đại vẫn chưa vượt qua con số 20% thị phần. Sự mới, lạ, đầu tiên của Toromart đã thu hút được sự chú ý, quan tâm của khá nhiều người. Khách đến mua sắm, không chỉ là các bạn trẻ thế hệ Z (những người sinh từ năm 1995 trở về sau, những người đang được đánh giá là làm thay đổi, định hình lại khái niệm của nhiều lĩnh vực nhờ khả năng sử dụng công nghệ và thích khám phá cái mới) mà còn cả giới văn phòng ưa thích sự tiện lợi. Điều đó đồng nghĩa với việc, một lượng khách vốn mua sắm ở đâu đó, cửa hàng tiện lợi chẳng hạn, đang dịch chuyển về đây. Nếu chuỗi này có ba điểm như hiện tại thì vấn đề có thể chưa lớn với bất kỳ ai nhưng nếu con số là 200 như nhà đầu tư chia sẻ thì chắc chắn, đó lại là câu chuyện khác.

Cũng có tuổi đời ba năm như Kootoro Services là Công ty cổ phần Sản xuất Thương mại Dịch vụ Juno. Đến thời điểm hiện tại, nhà bán lẻ giày dép, túi xách, ví này đã có 68 cửa hàng trong hệ thống cùng kênh bán hàng trực tuyến với khá nhiều điểm tiếp xúc, từ trang web đến đường dây nóng, mạng xã hội Facebook, Zalo.

Doanh thu trực tuyến hiện chiếm khoảng 15% tổng doanh số, một con số không nhỏ trong mặt bằng chung ở Việt Nam. Số lượng giày bán ra đang tăng với tốc độ của cấp số nhân và đưa thương hiệu trẻ này vượt lên nhiều nhãn hiệu đã có lịch sử hàng chục năm phát triển trên thị trường Việt Nam. Ông Nguyễn Quốc Tuấn, đồng sáng lập, Giám đốc tiếp thị và thương mại điện tử của Juno, cho biết công ty đang chuẩn bị những nền tảng để bước ra thế giới. Juno đã đầu tư nghiêm túc cho công nghệ để công nghệ phục vụ công việc kinh doanh, nhiều khâu đã được tự động hóa, quản lý trên hệ thống tạo thành lợi thế cạnh tranh cho một doanh nghiệp non trẻ.

Toromart và Juno là hai ví dụ nho nhỏ cho thấy, những làn sóng mới trên thị trường bán lẻ thế giới như bán hàng tự động, thanh toán di động qua QR code hay bán hàng đa kênh (Omni-Channel); chatbot (dùng robot để tương tác với khách hàng trên trang web)... đã lan đến Việt Nam. Các doanh nghiệp, ở các tầng nấc khác nhau, đang nỗ lực ứng dụng những công nghệ mà thế giới đã và đang làm để phù hợp, tương thích với một bộ phận người tiêu dùng Việt Nam đã thay đổi hành vi mua sắm (thích mua sắm trên mạng thay vì đến cửa hàng, hào hứng với những ứng dụng mới...).

Tuy nhiên, đến thời điểm này theo nhận định của các chuyên gia trong ngành, chưa có nhiều doanh nghiệp Việt Nam chịu ứng dụng công nghệ mới. Nói như bà Nguyễn Phi Vân, chuyên gia bán lẻ và nhượng quyền quốc tế, doanh nghiệp bán lẻ tại Việt Nam chỉ mới chập chững những bước đầu tiên. Nếu nhìn vào hành trình mua sắm mà khách hàng đang đòi hỏi thì dường như chưa có doanh nghiệp nào đáp ứng đủ. Hành trình này gồm ba bước. Đầu tiên là trải nghiệm, tương tác và hài lòng về sản phẩm, dịch vụ. Bước thứ hai là quyết định mua với rất nhiều sự lựa chọn, lúc trên mạng, lúc thực tế, tùy vào hoàn cảnh, thời điểm, nhu cầu. Bước cuối cùng là chiêm nghiệm những giá trị cộng thêm, những dịch vụ gia tăng mà nhà cung cấp sản phẩm dịch vụ mang lại để quyết định có trở lại bước đầu tiên hay không. Ở mỗi bước, sẽ có rất nhiều việc doanh nghiệp có thể làm cho khách hàng của mình, chẳng hạn mỗi khách hàng có thể tùy chỉnh các chi tiết trong sản phẩm theo sở thích, nhu cầu hay có cách thức thanh toán nhanh chóng, tiện lợi như quét mã QR trên điện thoại...

Điều này, theo bà Vân, có khá nhiều nguyên nhân. Thứ nhất, những công ty cung cấp giải pháp, công nghệ mới trong ngành bán lẻ vẫn đang tập trung khai thác những khách hàng lớn, những đại gia bán lẻ tầm cỡ trên thế giới, chưa có thời gian dành cho các doanh nghiệp quy mô vừa vừa, nho nhỏ tại Việt Nam. Trong khi đó, các công ty khởi nghiệp về công nghệ tại Việt Nam có thể bán giải pháp với giá rẻ thì lại ít hiểu tình hình thực tế nên không đưa ra được những ứng dụng phù hợp. Ngược lại, từ phía các doanh nghiệp, cứ nghe đến công nghệ là lo ngại phải đầu tư thật nhiều tiền, lại cũng chưa thực sự hiểu công nghệ là gì, có thể mang lại hiệu quả ra sao... nên thường lảng tránh, trì hoãn.

Ông Nguyễn Quốc Toàn, Phó tổng giám đốc Công ty Ernst & Young Việt Nam (EY), lãnh đạo ngành hàng tiêu dùng và bán lẻ khu vực Đông Dương, thì nhận xét: việc ứng dụng công nghệ kỹ thuật số vào hoạt động kinh doanh tại các doanh nghiệp Việt Nam đã tăng lên nhưng vẫn còn đi sau rất nhiều so với các nền kinh tế phát triển khác trên thế giới. Nhìn vào từng nhóm bán lẻ thì mức độ ứng dụng công nghệ là rất chênh lệch. Với các doanh nghiệp đang hoạt động ở kênh truyền thống như chợ và cửa hàng tạp hóa thì hàm lượng công nghệ gần như bằng 0. Kênh hiện đại như siêu thị và cửa hàng tiện ích thì cao hơn nhưng cũng chỉ ở mức trung bình. Các doanh nghiệp ở kênh trực tuyến thì tốt hơn, họ đã ứng dụng công nghệ ở trình độ cao.

Năm đến hai mươi năm tới, thị trường bán lẻ sẽ là sân chơi của một số ông lớn, những doanh nghiệp không ngừng chạy đua đầu tư vào công nghệ kỹ thuật số để tạo nên sự khác biệt trên thị trường.

Thực tế này, theo ông Toàn, là vì khi nói tới đầu tư cho phát triển công nghệ kỹ thuật số, hầu hết doanh nghiệp Việt Nam thường cân nhắc tới lợi ích ngắn hạn tương ứng với số vốn phải bỏ ra trong khi đây lại là một câu chuyện dài hơi, hiệu quả không thể đo đếm ngay trong ngày một ngày hai. Không những vậy, đa số công ty Việt Nam đang tiếp cận chiến lược kỹ thuật số theo hướng từ dưới lên theo quy trình: (1) tìm kiếm xem những công nghệ nào đang có mặt trên thị trường, (2) tìm hiểu xem mình có thể áp dụng gì trong “một đống” kỹ thuật số đó, và (3) xem xét liệu công ty có khả năng phát triển công nghệ đó hay không. Hướng tiếp cận này dẫn đến việc coi chiến lược kỹ thuật số như là những ứng dụng đơn lẻ, khiến doanh nghiệp bị đội chi phí mà hiệu quả thu được lại không như mong muốn.

Để chuyển đổi thành công

Những trường hợp thành công trên thế giới ở ngành bán lẻ cho thấy, những người nắm giữ công nghệ có thể định nghĩa lại một ngành nghề, một lĩnh vực kinh doanh. Đây chính là vũ khí, là cửa sổ vàng để doanh nghiệp định vị hoặc tái định vị lợi thế cạnh tranh trong thế giới mới. Tuy nhiên, thời gian để khai thác công nghệ làm lợi thế cạnh tranh này lại có hạn. “Theo tôi, doanh nghiệp Việt Nam chỉ còn có ba năm để đầu tư cho công nghệ qua đó tái định nghĩa vị thế cạnh tranh của mình trên thị trường. Bỏ lỡ thời điểm vàng này, khi công nghệ trở nên phổ thông, người người, nhà nhà đều có thể ứng dụng thì lúc đó, cửa sổ vàng sẽ mất, chẳng còn lợi thế hay khác biệt nào để tạo nên sự đột biến”, bà Vân nói. Không những vậy, viễn cảnh về việc mất khách hàng vào tay những đối thủ nước ngoài cũng rất dễ thấy bởi đây cũng sẽ là thời điểm, các ông lớn sau thời gian “chạy thử” những ứng dụng mới tại các thị trường khác sẽ triển khai ồ ạt, nhanh chóng ở Việt Nam, đáp ứng nhu cầu của người dùng.

Ông Nguyễn Quốc Toàn nhận định: trong vòng ba đến năm năm tới, các doanh nghiệp bán lẻ hiện đại có quy mô nhỏ nếu không ứng dụng công nghệ sẽ không đủ sức cạnh tranh với doanh nghiệp lớn có đầu tư. Hậu quả dễ thấy là sẽ phá sản hoặc phải bán mình cho đối thủ. Trong năm đến hai mươi năm tới, thị trường bán lẻ sẽ là sân chơi của một số ông lớn, những doanh nghiệp không ngừng chạy đua đầu tư vào công nghệ kỹ thuật số để tạo nên sự khác biệt trên thị trường. Xa hơn nữa, các điểm bán lẻ trực tiếp có vai trò là nơi giải trí và trải nghiệm sản phẩm nhiều hơn là mua sắm bởi người tiêu dùng chủ yếu mua trực tuyến. “Tôi tin rằng trong tương lai xa, thị trường bán lẻ sẽ rất khác, ranh giới giữa thế giới thực và ảo bị xóa nhòa bởi sự phát triển của các công nghệ mới”, ông Toàn nói. Đây là lúc các doanh nghiệp không còn được phép hỏi “khi nào sẽ phát triển năng lực kỹ thuật số?” mà chỉ có thể đặt câu hỏi “phát triển như thế nào?”.

Để có thể chuyển đổi thành công, các doanh nghiệp phải thay đổi phương pháp tiếp cận từ dưới lên như lâu nay thành từ trên xuống. Đó là việc xác định kỹ thuật số sẽ phá bỏ hệ thống hiện tại, xác định giá trị tối đa mà kỹ thuật số đem lại, đi kèm với cơ chế quản lý kỹ thuật số là sự biến đổi theo hướng kỹ thuật số. Tiếp theo là xác định kế hoạch kinh doanh kỹ thuật số với ba khía cạnh chính: (1) mô hình kinh doanh mới, (2) trải nghiệm của khách hàng, và (3) cơ chế vận hành. Sau khi đã rõ ràng được những yêu cầu trên thì sẽ xác định được việc tự xây dựng năng lực kỹ thuật số, mua lại năng lực, hay tìm đối tác chiến lược.

Và trong câu chuyện này thì tiền không phải yếu tố quyết định tất cả. Quan trọng nhất, là nhận thức đầy đủ và quyết tâm đi đến cùng của người đứng đầu doanh nghiệp. Nguyên tắc cần nhớ là việc đầu tư cho công nghệ kỹ thuật số là chiến lược dài hạn, không phải là câu chuyện ngày một ngày hai và tất nhiên không thể thấy kết quả ngay lập tức; cũng không phải là công việc của một vài người hay vài nhóm người mà là sự đồng bộ của cả hệ thống...

Từ những trải nghiệm của mình, ông Nguyễn Quốc Tuấn của Juno khẳng định: yếu tố đầu tiên quyết định cho việc ứng dụng công nghệ thành công chính là niềm tin của những người đứng đầu. Phải hiểu một cách sâu sắc và tin tưởng chắc chắn vào những sự khác biệt mà công nghệ sẽ đem lại thì người chủ doanh nghiệp mới có thể “xuống tiền” cũng như đeo đuổi quá trình này.

Chính vì công nghệ thay đổi liên tục và nhu cầu của doanh nghiệp cũng biến đổi không ngừng nên doanh nghiệp cần rất kiên trì với con đường mà mình đã vạch ra. Làm được điều đó, doanh nghiệp sẽ được tưởng thưởng xứng đáng.

Chia sẻ:
   
CÙNG CHUYÊN MỤC
Giấy phép Báo điện tử số: 2302/GP-BTTTT, cấp ngày 29/11/2012