Lựa chọn của nhà đầu tư Nhật
Thứ Ba,  6/3/2018, 09:47 

Lựa chọn của nhà đầu tư Nhật

Quốc Hùng

Nhiều doanh nghiệp Nhật Bản đang có kế hoạch mở rộng sản xuất tại Việt Nam. Ảnh: Quốc Hùng

(TBKTSG) - Cùng với việc dẫn đầu nguồn vốn cam kết đầu tư vào Việt Nam trong năm vừa qua, các doanh nghiệp Nhật Bản đã tiếp tục chọn Việt Nam là thị trường để mở rộng hoạt động kinh doanh nhiều nhất trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương, theo một khảo sát của Tổ chức Xúc tiến thương mại Nhật Bản (JETRO).

Lý do lựa chọn

Công ty Panasonic Eco Solutions Việt Nam (PESVN) thuộc tập đoàn Panasonic gần đây đã khai trương nhà máy mới sản xuất các thiết bị nối dây và thiết bị đóng ngắt điện tại tỉnh Bình Dương, với khả năng sản xuất khoảng 53 triệu thiết bị nối dây và 13 triệu thiết bị đóng ngắt điện mỗi năm. Bằng việc xây dựng nhà máy mới, Panasonic đã nhân gấp đôi năng lực sản xuất sản phẩm này của mình cho đến năm tài chính 2020. Ngoài ra, công ty cũng lên kế hoạch mở rộng khu vực xung quanh với diện tích xấp xỉ 18.000 mét vuông để xây thêm nhà máy mới trong tương lai. Theo tập đoàn Panasonic, việc đầu tư này không chỉ cung cấp sản phẩm cho thị trường trong nước mà còn xuất khẩu sang khu vực Đông Nam Á.

Không riêng Panasonic, nhiều doanh nghiệp xứ hoa anh đào đang hoạt động ở Việt Nam cũng có kế hoạch mở rộng sản xuất kinh doanh. Ông Takimoto Koji, Trưởng đại diện JETRO tại TPHCM, cho biết qua khảo sát về tình hình hoạt động năm 2017 của doanh nghiệp Nhật Bản tại châu Á và châu Đại Dương do JETRO thực hiện cho thấy khoảng 70% doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam có kế hoạch mở rộng hoạt động. Đây là tỷ lệ cao nhất so với các doanh nghiệp nước này đang đầu tư ở 19 quốc gia và vùng lãnh thổ khác trong khảo sát. Đây là năm thứ ba liên tiếp khảo sát cho thấy doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam có xu hướng muốn mở rộng hoạt động kinh doanh nhiều nhất.

Cũng theo kết quả khảo sát, khoảng 88% số doanh nghiệp nước này hoạt động tại Việt Nam cho biết họ có kế hoạch mở rộng hoạt động là do doanh thu tăng; khoảng 46% nhận thấy tiềm năng tăng trưởng cao; khoảng 27% cho rằng có nhiều hơn mối quan hệ với các đối tác...

Bên cạnh đó, khảo sát còn cho thấy, hơn một nửa số doanh nghiệp xứ hoa anh đào đang hoạt động ở Việt Nam đánh giá cao về ba yếu tố: quy mô thị trường, tính tăng trưởng; tình hình chính trị, xã hội ổn định; chi phí nhân công rẻ. Một điểm đáng chú ý trong khảo sát này, theo ông Koji, đó là tỷ lệ doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam kinh doanh có lãi chiếm 65,1%, tăng 2,3 điểm phần trăm so với năm trước, đồng thời lợi nhuận của gia công xuất khẩu (EPE) tương đối tốt.

Giảm sản xuất, tăng đầu tư bất động sản, dịch vụ

Kết quả khảo sát tình hình hoạt động của doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam năm 2017 của JETRO cũng cho thấy doanh nghiệp nước này đã có một năm đầu tư mạnh mẽ, dẫn đầu 125 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư vào Việt Nam, với tổng vốn đăng ký 8,64 tỉ đô la Mỹ, tăng hơn ba lần so với năm 2016, chiếm trên một phần ba tổng số vốn đầu tư vào Việt Nam. Theo ông Koji, nguồn vốn tăng cao đột biến chủ yếu từ sự đóng góp của ba dự án về cơ sở hạ tầng. Trước hết là hai dự án nhiệt điện gồm Vân Phong 1 tại Khánh Hòa có vốn đăng ký 2,58 tỉ đô la và Nhà máy Nhiệt điện Nghi Sơn 2 tại Thanh Hóa có vốn đăng ký 2,79 tỉ đô la. Kế đến là dự án khí Ô Môn (lô B) với vốn đầu tư 1,278 tỉ đô la.

Nếu loại trừ ba dự án có quy mô vốn lớn này thì dòng vốn đầu tư của Nhật Bản vào Việt Nam tập trung vào các dự án có quy mô nhỏ với khoảng vài triệu đô la. Tuy nhiên, vốn đầu tư nước này giảm ở ngành chế biến-chế tạo (gần 20%), tăng ở lĩnh vực bất động sản (khoảng 16%). Cụ thể, số vốn vào ngành chế biến-chế tạo còn khoảng 40% (năm 2016 chiếm 59%); trong khi lĩnh vực bất động sản nhảy vọt lên 23% so với mức 7% của năm 2016; bán lẻ đạt 9%; khách sạn-ăn uống là 6%; kho bãi-vận chuyển 6%; xây dựng 5%...

Vì sao có sự sụt giảm đột biến từ khối chế tạo? Lý giải việc này, ông Koji cho rằng doanh nghiệp Nhật Bản giảm dự án chế tạo với những sản phẩm đơn giản mà nguồn lao động Việt Nam đang có những thay đổi không còn là lợi thế, nhưng đối với các dự án sản xuất đòi hỏi sự khéo léo, tỉ mỉ, thì doanh nghiệp nước này vẫn tiếp tục tăng đầu tư mở rộng vì nhận thấy người Việt Nam khéo tay. Đơn cử như dự án sản xuất thiết bị y tế.

Đối với việc dòng vốn Nhật Bản vào bất động sản tăng hơn 4 lần so với năm 2016, đạt con số 232 triệu đô la Mỹ, theo ông Koji, do đây là lĩnh vực mà Việt Nam còn có nhiều tiềm năng. Theo giới phân tích, nguồn vốn từ Nhật rót vào lĩnh vực bất động sản trên thực tế còn cao hơn rất nhiều, trong đó thông qua vốn đầu tư gián tiếp, qua con đường mua bán-sáp nhập (M&A), hay mua cổ phần của doanh nghiệp trong nước. Đơn cử các tập đoàn Nhật Bản như Kajima, Mitsubishi, Maeda, Creed Group, Tokyu, Hankyu Realty, Nishi Nippon Railroad, Pressance Corporation... đã góp vốn vào các dự án bất động sản nhưng không có thống kê vào nguồn vốn đầu tư trực tiếp (FDI).

Ông Thân Thanh Vũ, Chủ tịch HĐQT Công ty Xúc tiến thương mại và Đầu tư Sao Khuê - doanh nghiệp chuyên tư vấn đầu tư các thương vụ M&A và có hơn 20 năm kinh nghiệm làm việc với các doanh nghiệp Nhật - cũng cho rằng những tập đoàn lớn của xứ mặt trời mọc đang tìm kiếm cơ hội phát triển các khách sạn 5 sao, nhà ở cao cấp, căn hộ dịch vụ, trung tâm thương mại, cao ốc văn phòng... ở Việt Nam. Tuy nhiên, họ không dễ tìm được mặt bằng để đầu tư trực tiếp và vì thủ tục đất đai phức tạp. Phương án đầu tư được chọn là qua M&A.

Ông Masataka Sam Yoshida, Giám đốc điều hành cao cấp của Recof, tập đoàn chuyên tư vấn các thương vụ M&A có trụ sở ở Tokyo, xác nhận về vấn đề này. Theo ông, trước đây, cộng đồng nhà đầu tư Nhật không mấy quan tâm lĩnh vực bất động sản ở Việt Nam, nhưng gần đây, nhiều công ty, tập đoàn đã bắt đầu chú ý.

Bên cạnh đó, doanh nghiệp Nhật Bản trong thời gian qua cũng gia tăng vào lĩnh vực thương mại và dịch vụ, vì nhận định rằng thị trường Việt Nam càng cho thấy có nhiều tiềm năng nhờ dân số đông và thu nhập của người dân tăng lên. Trong năm qua, có đến gần 70 dự án tư vấn và 64 dự án phân phối bán lẻ của nước này được cấp phép đầu tư vào Việt Nam, gần với số dự án về chế biến - chế tạo là 88. Ông Koji cho rằng, khả năng các lĩnh vực sẽ được doanh nghiệp Nhật Bản gia tăng đầu tư trong năm 2018 và những năm tiếp theo là các dự án sản xuất hàng tiêu dùng, dự án dịch vụ, bán lẻ...

Vẫn còn những băn khoăn

Dù môi trường đầu tư của Việt Nam được đánh giá có nhiều cải thiện nhưng theo kết quả khảo sát của JETRO thì doanh nghiệp Nhật vẫn phàn nàn là còn nhiều rủi ro, cản trở họ phát triển. Chi phí nhân công tăng cao là rủi ro lớn nhất (hơn 60% doanh nghiệp nước này lo ngại). Có 52,5% doanh nghiệp được khảo sát cho biết, hiện chi phí nhân công ở Việt Nam vẫn còn tương đối rẻ, chỉ đứng sau Bangladesh, Philippines, Lào và Pakistan, tuy nhiên loại chi phí này đang ngày càng tăng cao. Năm 2016, chỉ có 58,5% số doanh nghiệp lo lắng về điều đó, nhưng năm 2017 con số này đã tăng lên 61,6%.

Một điểm bất lợi khác khi đầu tư vào Việt Nam, theo các doanh nghiệp được khảo sát, đó là tỷ lệ cung ứng nội địa ở mức thấp so với các nước trong khu vực, và vài năm gần đây luôn ở ngưỡng 30%. Trong năm qua, khảo sát cho thấy tỷ lệ cung ứng nguyên vật liệu, linh kiện nội địa cho doanh nghiệp Nhật giảm còn khoảng 33,2% (năm 2016 là 34,2%). Trong khi đó, tỷ lệ cung ứng của các quốc gia trong khu vực như Malaysia là 38,2%, Indonesia 45,2%, Thái Lan 56,8%, Philippines 42,2%. Theo khảo sát, Việt Nam vẫn thiếu các nhà cung cấp tiềm năng có năng lực cạnh tranh và khả năng tuân thủ các tiêu chuẩn về chất lượng. Ông Takimoto Koji kiến nghị cần tiếp tục có các chính sách nâng đỡ đối với ngành công nghiệp hỗ trợ.

Các vấn đề về mặt hành chính như “hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện, vận dụng pháp luật không rõ ràng”; “cơ chế thuế, thủ tục thuế”; “thủ tục hành chính phức tạp”... tiếp tục được nhiều doanh nghiệp Nhật nêu ra và cho rằng cần được nhanh chóng cải thiện.

Liên quan đến việc hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện, vận dụng pháp luật không rõ ràng, doanh nghiệp nêu dẫn chứng về quy chế nhập khẩu máy móc đã qua sử dụng. Với quy chế này, các doanh nghiệp Nhật không thể tận dụng máy móc đang sử dụng của mình để mang đến Việt Nam sản xuất. Đây cũng được cho là một trong những nguyên nhân khiến nguồn vốn đổ vào lĩnh vực chế biến-chế tạo năm 2017 giảm gần 20% như đã nói ở trên. 

TIN BÀI LIÊN QUAN
Chia sẻ:
   
CÙNG CHUYÊN MỤC
Giấy phép Báo điện tử số: 2302/GP-BTTTT, cấp ngày 29/11/2012