Bài học từ “thẻ vàng” EU áp cho hải sản
Thứ Năm,  8/3/2018, 10:30 

Bài học từ “thẻ vàng” EU áp cho hải sản

Võ Đình Trí (*)

Vấn đề môi trường, người lao động ngày càng được quan tâm ở các nước nhập khẩu hàng nông - lâm - thủy sản. Ảnh: UYÊN VIỄN

(TBKTSG) - Tháng 9-2017, Ủy ban châu Âu (EC) đã áp dụng Biện pháp hạn chế thương mại (Trade Restrictive Measures - TREMS) thẻ vàng đối với hàng hải sản của Việt Nam. Chính phủ và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) đã có một số ứng phó tích cực nhằm giải quyết vấn đề này trước tháng 4-2018. Tuy vậy, vẫn còn nhiều công việc cốt lõi cần thực hiện để hải sản và các nhóm hàng khác của Việt Nam không bị rơi vào tình huống tương tự trong tương lai.

Lập luận IUU và hệ lụy “thẻ vàng”

Thẻ vàng cho ngành thủy sản, thách thức hay cơ hội?

Thẻ vàng và những lưu ý quan trọng đối với hàng xuất khẩu

Quy định của EC về đánh bắt hải sản bất hợp pháp, không có báo cáo và không được quản lý (llegal, Unreported and Unregulated - IUU), hay được gọi chung là đánh bắt bất hợp pháp (IUU) có từ năm 2009. Điều này xuất phát từ mục tiêu thứ 14.4 trong 17 mục tiêu phát triển thiên niên kỷ của Liên hiệp quốc (SDGs), khi xem cá và các nguồn hải sản khác là nguồn tài nguyên tái tạo đang bị khai thác quá mức. Thêm vào đó, phần lớn lượng hải sản khai thác được giao thương trên thế giới.

Như tên gọi, IUU bao gồm việc đánh bắt bất hợp pháp, không báo cáo hay báo cáo không đầy đủ số lượng, chủng loại đánh bắt và không có quản lý (đa phần xảy ra ở hải phận quốc tế, ngoài phạm vi 200 hải lý thuộc đặc vùng kinh tế hay vùng biển chồng lấn).

Để chống lại việc đánh bắt IUU, hiện nay trên thế giới có hai công cụ chính: Các biện pháp hạn chế thương mại (TREMS) và Quy trình chứng nhận đánh bắt. Quy trình chứng nhận đánh bắt bao gồm Tài liệu quy trình thương mại (Trade Documentation Schemes - TDS) và Tài liệu quy trình đánh bắt (Catch Documentation Schemes - CDS).

Đến cuối năm 2012, EC bắt đầu lập danh sách các nước có xuất khẩu hải sản vào Liên hiệp châu Âu (EU), và đề ra ba mức hạn chế thương mại (TREMS) là thẻ xanh, vàng và đỏ. Theo đó, thẻ vàng là ở mức độ cảnh báo và thẻ đỏ là cấm nhập.

Về quy trình, EC cử người đại diện đến quốc gia quan tâm (có hàng hải sản xuất vào EU), bao gồm người của EC và/hoặc cơ quan quản lý thủy sản châu Âu. Nhóm này sẽ làm một báo cáo và EC sẽ ra quyết định áp dụng thẻ xanh hay vàng. Nếu là thẻ vàng, quốc gia liên quan bị yêu cầu trả lời chính thức và cung cấp một lộ trình cụ thể đến EC bao gồm thời hạn thực hiện để đạt được các yêu cầu của EC.

Cơ quan quản lý nhà nước cần có hệ thống cập nhật (news alert) hiệu quả hơn các chính sách, quy định của nước nhập khẩu.

Hết thời hạn, EC sẽ quyết định rút thẻ vàng hay đề xuất thẻ đỏ. Tuy nhiên, thẻ đỏ phải được chấp thuận bởi Hội đồng châu Âu. Có một điều đặc biệt, EC chỉ quan tâm đến quốc tịch của tàu (flag of convenience - FOC) mà không để ý đến cảng hay trung tâm giao thương. Hơn nữa, EC chỉ tập trung vào các nước châu Phi, Á, vùng Caribê và Tây Nam Thái Bình Dương. Do đó, ngay cả khi một nước bị thẻ đỏ thì hải sản qua chế biến vẫn có thể được nhập khẩu từ quốc gia đó, miễn là chứng minh được hải sản này được đánh bắt từ tàu không mang quốc tịch của nước bị cấm.

Trong khu vực châu Á, có một số nước/vùng lãnh thổ đã và đang bị thẻ vàng, thẻ đỏ, như Campuchia, Thái Lan, Đài Loan, Hàn Quốc, Việt Nam, Philippines, Sri Lanka. Trong đó, Philippines chỉ mất dưới một năm để quay về thẻ xanh.

Vấn đề môi trường, người lao động ngày càng được quan tâm ở các nước nhập khẩu hàng nông - lâm - thủy sản (thường là các nước phát triển). Những quan tâm này được cụ thể hóa trong các điều kiện thương mại, vì vậy họ yêu cầu rất chặt chẽ với các nước xuất khẩu. Các điều khoản được quan tâm đặc biệt là nguồn gốc của nguyên liệu, sản phẩm có được khai thác mang tính bền vững, không hủy hoại môi trường hay không; được khai thác, chế biến tự nhiên hay dùng nhiều phụ phẩm, hóa chất nhân tạo ảnh hưởng đến sức khỏe; điều kiện làm việc của người lao động (trường hợp hải sản Thái Lan bị trừng phạt vì sử dụng lao động bất hợp pháp). Do đó, không chỉ mặt hàng hải sản, mà các mặt hàng nông - lâm - thủy sản nói chung cần đáp ứng các yêu cầu nói trên nếu muốn xuất khẩu vào các thị trường phát triển.

Chuẩn bị kỹ khi tiếp cận các thị trường phát triển

Thủy sản đang trở thành mặt hàng xuất khẩu chiến lược của Việt Nam khi mục tiêu xuất khẩu năm 2018 là 10 tỉ đô la Mỹ (năm 2017 là 8,32 tỉ đô la Mỹ). Trong số này, mặt hàng hải sản chiếm khoảng 15%, với các mặt hàng chính là cá ngừ, mực và bạch tuộc đông lạnh, cá các loại và hải sản khô. Dù chiếm tỷ trọng thấp hơn tôm, cá tra nhưng nếu bị ảnh hưởng bởi lệnh hạn chế hay cấm, các nhóm hàng khác cũng sẽ bị ảnh hưởng lây.

Với trường hợp thẻ vàng của EC, Chính phủ và Bộ NN&PTNN đã có một số ứng phó tích cực, nhưng hầu hết là giải pháp tình thế khi ban hành một loạt nghị định (số 67), quyết định (số 48, số 4840), chỉ thị (số 689, số 45), công điện (số 732) và cả Luật Thủy sản sửa đổi có hiệu lực từ tháng 1-2019. Mặc dù đã có những định hướng, chỉ đạo về việc xây dựng quy trình xác nhận, chứng nhận thủy sản khai thác, mua hải sản theo chuỗi, hệ thống thông tin quản lý tàu cá, phổ biến pháp luật và quy định về khai thác đánh bắt... nhưng trên thực tế, việc khiển khai rất hạn chế khi xuống đến chủ tàu cá, ngư dân. Điều này phía EC chắc cũng biết vì họ cũng đã có kinh nghiệm đối với nhiều nước khác, khi có một khoảng cách rất xa giữa quy định và thực tế.

Để khắc phục và tránh những trường hợp tương tự trong tương lai, doanh nghiệp và các bộ, ngành liên quan đến các nhóm hàng xuất khẩu chiến lược cần lưu ý và thực hiện tốt một số điểm sau:

Thứ nhất, các hộ gia đình, cơ sở khai thác nuôi trồng, phải đăng ký kinh doanh và có hệ thống sổ sách kế toán, dù là đơn giản nhất. Điều này không chỉ hạn chế hoạt động kinh tế phi chính thức, mà còn giúp các hộ gia đình, cơ sở kiểm soát tốt hơn chi phí và doanh thu. Bên cạnh đó, cần có hệ thống ghi chép, lưu trữ quá trình sản xuất.

Thứ hai, các doanh nghiệp mua chế biến, cần thực hiện nghiêm và khuyến khích mua hàng có nguồn gốc rõ ràng, nhất là các chứng từ liên quan đến hoạt động đánh bắt nuôi trồng.

Thứ ba, cơ quan quản lý nhà nước cần có chế tài thật nghiêm đối với các cơ sở, doanh nghiệp liên quan trong chuỗi nuôi trồng, đánh bắt, chế biến nếu họ có sai phạm. Cần tham khảo chặt chẽ các quy định của các nước nhập khẩu để có quy định mức độ tương thích.

Cuối cùng, cơ quan quản lý nhà nước cần có hệ thống cập nhật (news alert) hiệu quả hơn các chính sách, quy định của nước nhập khẩu. Các chính sách, quy định ở nước phát triển thường trải qua một vài năm từ khi dự thảo đến khi có hiệu lực. Khi nắm được thông tin sớm, việc chuẩn bị sẽ chỉnh chu hơn, tránh rơi vào thế bị động khi việc đã rồi.

(*) Đại học Kinh tế TPHCM và AVSE Global

Chia sẻ:
   
CÙNG CHUYÊN MỤC
Giấy phép Báo điện tử số: 2302/GP-BTTTT, cấp ngày 29/11/2012