Thương vụ Uber - Grab: Các nước sẽ phải kiểm soát sáp nhập ra sao?
Thứ Tư,  11/4/2018, 15:08 

Thương vụ Uber - Grab: Các nước sẽ phải kiểm soát sáp nhập ra sao?

Trương Trọng Hiểu (*)

Uber quyết định rút khỏi thị trường Đông Nam Á để nhường sân cho Grab. Ảnh: THÀNH HOA

(TBKTSG) - Năm 2016, Uber “bán mình” cho Didi-Chuxing và rút lui khỏi thị trường Trung Quốc, nhượng thế thống lĩnh thị trường cho nhà cung ứng dịch vụ nội địa. Dư luận lúc đó một phần khá bàng hoàng vì Uber chỉ mới hai năm chân ướt chân ráo bước vào khu vực thị trường rộng lớn bậc nhất châu Á này; một phần cũng không đặt nặng vấn đề kiểm soát cạnh tranh khi chẳng có gì lạ là chỉ có ứng dụng Trung Quốc mới “chạy được” trên đất Trung Quốc.

Luật Cạnh tranh và thương vụ Grab-Uber

Nhưng lần này, Uber quyết định rút khỏi thị trường Đông Nam Á để nhường sân cho Grab với kịch bản tương tự, và trở thành cổ đông của đối thủ, vấn đề kiểm soát sáp nhập không còn lý do gì để không xôn xao.

Kiểm soát như thế nào?

Việc ngăn chặn vụ sáp nhập thường do vụ việc khi thực hiện đã: (i) tạo ra sức mạnh thị trường, hay theo đó (ii) tạo ra khả năng chi phối thị trường cho doanh nghiệp sau sáp nhập, tiêu biểu nhất là khả năng chi phối giá. Tùy theo nhu cầu, cách tiếp cận và mức độ đòi hỏi mà pháp luật một nước lựa chọn theo đuổi mục tiêu nào.

Quy trình kiểm soát ở lựa chọn đầu có vẻ khá đơn giản, vì chỉ dựa vào các tiêu chí hay thông số định sẵn để khẳng định sức mạnh thị trường của doanh nghiệp, đơn cử như thị phần. Việc đánh giá cũng có thể “động” hơn khi quá trình xác định phạm vi thị trường được mở đủ rộng và sát thực. Khi đó, các đối thủ cạnh tranh tiềm năng thật sự, hay khả năng gia nhập thị trường thuận lợi cho các tay chơi mới đều được quan tâm đúng mực. Đơn cử như, sự tham gia của Công ty cổ phần Xe khách Phương Trang trong lĩnh vực kinh doanh này như thông tin mấy ngày qua (công bố đầu tư khoảng 2.200 tỉ đồng vào ứng dụng gọi xe lấy tên là Vato) có thể là minh họa điển hình nhất cho mức độ gia giảm sức mạnh thị trường của Grab trong tương lai.

Kiểm soát theo lựa chọn thứ hai đặt ra những yêu cầu phức tạp hơn, vì cơ quan kiểm soát cạnh tranh phải tiến hành đánh giá khả năng tác động của vụ việc sau khi thương vụ được tiến hành. Lúc đó, sẽ có nhiều công cụ, lý thuyết kinh tế-tài chính và khung đánh giá được huy động để sử dụng.

Với thương vụ sáp nhập xuyên biên giới của Uber và Grab, sẽ có nhiều cơ quan kiểm soát cạnh tranh của nhiều nước có liên quan vào cuộc. Nếu theo đuổi mục tiêu thứ nhất, việc rà soát cũng tương tự, tức đếm số lượng doanh nghiệp còn lại trên thị trường và các thông số cần biết của chúng. Trở ngại lớn nhất là việc xác định đúng thị trường liên quan và doanh nghiệp hoạt động cùng thị trường với Uber và Grab. Tuy nhiên, mức độ phức tạp sẽ tăng lên nếu cơ quan kiểm soát cạnh tranh các nước mong muốn đánh giá khả năng tác động thật sự của vụ việc, cũng do tính đặc thù của mô hình kinh doanh mà Uber và Grab đang sử dụng.

Làm gì với Uber và Grab?

Lựa chọn văn minh của kiểm soát sáp nhập là cứu vãn tình thế, bằng biện pháp khắc phục sáp nhập. Nếu doanh nghiệp sau sáp nhập có sức mạnh thống lĩnh thị trường thì có thể áp dụng biện pháp buộc họ tách, bán doanh nghiệp hay tìm kiếm một đối thủ cạnh tranh mới.

Trước hết, cần thống nhất là cả Uber và Grab đều đang tiến hành phục vụ cùng lúc cho hai nhóm khách hàng, một bên là tài xế và một bên là hành khách. Từ nghiên cứu của Jean Tirole (Nobel kinh tế năm 2014) đến tổng hợp của OECD năm 2009 đều cho thấy, sáp nhập ở mô hình kinh doanh này có xu hướng tạo ra mức độ tập trung thị trường cao. Tuy nhiên, việc đánh giá được khuyến cáo là cần phải xem xét mức độ tác động lẫn nhau giữa hai nhóm đối tượng, cụ thể ở đây là tài xế và hành khách. Khi đó, những công cụ hiện thời của Luật Cạnh tranh đang được sử dụng cho mô hình kinh doanh hướng đến một nhóm đối tượng có thể sẽ không còn tương thích.

Hàng loạt tác động xấu có thể được giả định khi Uber rút lui. Ví dụ, Grab có thể sẽ đẩy giá cước vận tải hay gây sức ép với tài xế bằng mức chiết khấu cao. Nhưng tác động trước mắt có thể thấy là tài xế đang là đối tác của Uber gần như chỉ có cách lựa chọn Grab nếu không muốn từ bỏ cuộc chơi, mặc dù trước đó họ đã không chọn hãng này. Dù vậy, nếu chỉ sử dụng khung đánh giá tách bạch với mỗi nhóm khách hàng, tác động của vụ sáp nhập theo mô hình kinh doanh của Grab và Uber được cảnh báo có thể không chính xác.

Một đòi hỏi khác được đặt ra chính là sự cân bằng về lợi ích giữa hai nhóm khách hàng cần được xem xét. Lý thuyết cũng như kết quả nghiên cứu thực nghiệm tại các trường hợp có mô hình kinh doanh tương tự đã chỉ ra rằng, nhiều trường hợp, việc tăng giá (tổn thất) đối với một nhóm khách hàng có thể được bù đắp bởi những lợi ích khác mà họ thụ hưởng. Ví dụ, giá cả có thể tăng nhưng hành khách sẽ có thêm nhiều lựa chọn; chiết khấu có thể cao nhưng tài xế dễ dàng có thêm cơ hội nhận khách. Thậm chí, OECD còn khuyến nghị rằng, tác động tích cực của vụ việc cũng cần được nhìn nhận và nhiều khi tổng phúc lợi mà thương vụ tạo ra cũng rất lớn khi tổn hại của một bên đã được bù đắp rất nhiều bởi lợi ích từ một bên khách hàng còn lại. Cho nên, nếu quyết định ngăn cản vụ việc sáp nhập theo kết luận cuối cùng không được phân tích dựa trên khung đánh giá này liệu có thu phục được nhân tâm?

Việt Nam có vượt được vũ môn?

Với quy định hiện hành, Việt Nam đang lựa chọn phương án kiểm soát thứ nhất. Theo đó, chỉ cần doanh nghiệp sau sáp nhập nắm thị phần kết hợp trên 50% là thương vụ đó sẽ bị cấm thực hiện. Khó khăn lớn nhất hiện nay là việc xác định ai đứng cùng thị trường với Uber hay Grab khi cuộc tranh luận về mô hình kinh doanh của họ vẫn chưa ngã ngũ. Nếu xem họ đang kinh doanh taxi thì thị trường sản phẩm sẽ được nới rộng ra và thị phần của họ tính theo doanh thu như cách mà pháp luật Việt Nam quy định hiện nay có thể sẽ không còn cao. Nhưng nếu không xem họ là taxi, chẳng hạn xem họ như kinh doanh cung ứng ứng dụng kết nối như dự thảo văn bản quản lý hiện thời, thì cách tiếp cận sẽ xây dựng khung pháp lý quản lý chung giữa taxi và mô hình này bị... lạc nhịp.

Lẽ dĩ nhiên, khung đánh giá này của Việt Nam không có chỗ cho sự hiện diện của các khuyến cáo mà OECD đã đưa ra. Điều đáng nói là, cho dù có theo đuổi mục tiêu kiểm soát thứ hai hay không thì nhiều nước Đông Nam Á hiện nay cũng chưa tiếp nhận mô hình pháp lý này, thậm chí có nước còn chưa có luật cạnh tranh hay ban hành luật cạnh tranh sau Việt Nam và mô hình kiểm soát còn đơn giản hơn. Cho dù không bắt buộc, nhưng sẽ rất chông chênh để các cơ quan kiểm soát cạnh tranh các nước tìm được tiếng nói chung trong thương vụ sáp nhập xuyên biên giới này.

Làm gì khi tiền trảm hậu...không tấu?

Có thể thấy, cơ quan kiểm soát cạnh tranh các nước khá bị động trước vụ việc này. Chỉ sau khi các thông tin về cuộc “hôn phối” được phát đi, các nước mới lần lượt ra tối hậu thư yêu cầu Uber và Grab báo cáo vụ việc. Lựa chọn này của Uber và Grab có thể sẽ phải đối diện với các chế tài trong các ngày tới, với mức phạt thường rất cao nếu như có dấu hiệu cho thấy thương vụ tiệm cận các yêu cầu buộc phải thông báo trước vụ việc đến cơ quan kiểm soát cạnh tranh.

Tình huống xấu hơn là cơ quan cạnh tranh của một, một vài, hay tất cả các nước đều ra đưa ra kết luận cuối cùng là vụ việc thuộc trường hợp bị cấm. Lựa chọn duy nhất có phải là dừng lại vụ việc? Thực ra, lựa chọn văn minh của kiểm soát sáp nhập là cứu vãn tình thế, bằng biện pháp khắc phục sáp nhập. Nếu doanh nghiệp sau sáp nhập có sức mạnh thống lĩnh thị trường thì có thể áp dụng biện pháp buộc họ tách, bán doanh nghiệp hay tìm kiếm một đối thủ cạnh tranh mới như trường hợp của Phương Trang nói trên ở Việt Nam. Nếu có dấu hiệu cho thấy họ có thể làm giá trên thị trường trong tương lai thì cơ quan kiểm soát cạnh tranh có thể buộc họ cam kết và giám sát. Có điều, không phải quy định kiểm soát sáp nhập ở quốc gia nào cũng đang có cơ chế này, đơn cử như Việt Nam. Cho nên, điều gì sẽ đến với Uber và Grab, xin cứ chờ xem!

(*) Khoa Luật kinh tế (Đại học Kinh tế - Luật, VNU-HCMC)

TIN BÀI LIÊN QUAN
Chia sẻ:
   
CÙNG CHUYÊN MỤC
Giấy phép Báo điện tử số: 2302/GP-BTTTT, cấp ngày 29/11/2012