Thu thuế từ TMĐT: Ngành thuế than khó
Thứ Tư,  11/4/2018, 10:04 

Thu thuế từ TMĐT: Ngành thuế than khó

Vân Ly

(TBVTSG) - Thương mại điện tử (TMĐT) đang phát triển rất nhanh tại Việt Nam và việc thiếu các quy định cụ thể đang khiến cho ngành thuế gặp nhiều khó khăn trong công tác thu thuế từ các hoạt động thuộc lĩnh vực này.

Hiện cơ quan thuế khó kiểm soát tình trạng nhiều doanh nghiệp, hộ kinh doanh bán hàng trực tuyến trực tiếp cho người tiêu dùng và thu tiền mặt cho các sản phẩm họ bán.

Số liệu do Hiệp hội TMĐT công bố tại hội thảo Toàn cảnh TMĐT Việt Nam 2018 diễn ra vào tháng 3 vừa qua cho thấy TMĐT đã đạt tốc độ tăng trưởng trên 25% trong năm 2017 so với năm trước đó. Trong khi hiệp hội này cũng như nhiều doanh nghiệp trong ngành dự báo tốc độ tăng trưởng của năm 2018 sẽ bằng năm 2017, thì ông Phạm Xuân Hùng, đại diện của Tổng công ty Bưu chính Việt Nam (VNPost), kỳ vọng mức tăng đến 30% dựa trên sự tăng trưởng kinh doanh của đơn vị này.

Mặc dù có những sự dự báo khác nhau nhưng các chuyên gia cùng chia sẻ một nhận định rằng ngành TMĐT trong nước sẽ tiếp tục phát triển tốt trong các năm tới. Do khuôn khổ pháp lý còn thiếu nên sự tăng trưởng trên đang tạo ra không ít thách thức cho các cơ quan đối với việc quản lý các hoạt động trong ngành này.

Những vướng mắc từ thu thuế TMĐT

Các cơ quan nói trên đang gặp nhiều khó khăn trong việc quản lý các hoạt động TMĐT vì đây là lĩnh vực khá mới tại Việt Nam. Phát biểu tại hội thảo Toàn cảnh TMĐT Việt Nam 2018, bà Mạnh Thị Tuyết Mai, Trưởng phòng chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp, Vụ Chính sách của Tổng cục thuế (Bộ Tài chính), đã nêu ra hàng loạt những vướng mắc liên quan đến công tác quản lý thuế trong lĩnh vực TMĐT.

Thứ nhất, theo bà Mai, việc cấp giấy phép kinh doanh còn gặp khó do hoạt động TMĐT chưa được xác định rõ trong danh mục ngành nghề kinh doanh. Theo quy định của pháp luật hiện hành, các tổ chức cá nhân được kinh doanh những lĩnh vực mà pháp luật không cấm, ví dụ như kinh doanh tài sản kỹ thuật số, cung cấp dịch vụ quảng cáo trên các ứng dụng bằng phần mềm, kết nối vận tải bằng phương tiện điện tử… Điều này khiến cho cơ quan thuế lung túng trong việc phân loại đúng ngành nghề kinh doanh để xác định nghĩa vụ nộp thuế của các bên tham gia hoạt động TMĐT.

Thực tế cho thấy việc xác định đúng bản chất giao dịch để đánh thuế với hoạt động kinh doanh TMĐT, đặc biệt là các hoạt động kinh doanh của nền kinh tế chia sẻ, là chuyện không đơn giản. Chẳng hạn như loại hình kinh doanh của Uber, Grab còn gây nhiều tranh cãi và chưa có sự thống nhất về việc xác định đây là loại hình kinh doanh gì. Các hiệp hội taxi xem Uber, Grab là loại hình vận tải taxi công nghệ, còn Bộ Giao thông Vận tải xem nó là loại hình kinh doanh vận tải theo hợp đồng. Bộ này đang sửa đổi Nghị định 86 về loại hình kinh doanh taxi, trong đó có quy định về loại hình kinh doanh như Uber, Grab. Bà Mai cho hay tùy theo từng loại hình kinh doanh mà mức thuế áp dụng sẽ khác nhau.

Quản lý thu thuế nhà thầu đối với các giao dịch TMĐT xuyên biên giới như dịch vụ đặt phòng khách sạn trực tuyến Agoda, Booking… của nước ngoài cũng là một thách thức cho cơ quan thuế của Việt Nam. Pháp luật hiện hành quy định các cơ sở lưu trú, khách sạn phải kê khai và nộp thuế thay cho các tổ chức kinh doanh trực tuyến.

Song, trong một số trường hợp thì các bên tham gia lại là những hộ kinh doanh nên họ nộp thuế theo loại thuế khoán. Nếu yêu cầu các hộ kinh doanh nộp thuế thay cho các tổ chức kinh doanh trên trang mạng trực tuyến sẽ vướng mắc trong việc thực hiện và họ cũng không được hạch toán khoản chi phí nộp thuế thay vào chi phí khi xác định thu nhập chịu thuế. Đây là một trong những vướng mắc chính liên quan đến loại hình kinh doanh xuyên biên giới.

Bà Mai cho biết nhiều cơ sở cung cấp dịch vụ lưu trú ký hợp đồng bán hàng phòng trọ với đối tác nước ngoài là các công ty du lịch quốc tế, các trang mạng đặt phòng trực tuyến để bán hàng cho khách quốc tế. Mặc dù các cơ sở này phải tuân thủ các quy định thu nhập tại Việt Nam nhưng lại không kê khai nộp thuế đầy đủ theo quy định. Thêm nữa nhiều doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử qua mạng cũng chưa thực hiện kê khai nộp thuế.

Bên cạnh đó, ngành thuế còn gặp khó khăn trong việc quản lý bán hàng cung cấp dịch vụ sản phẩm số trên các trang web, các trang mạng xã hội. Nhiều doanh nghiệp sử dụng website để quảng bá sản phẩm và bán hàng trực tuyến trực tiếp cho người tiêu dùng là các cá nhân nhưng không xuất hóa đơn bán hàng và thường thu tiền mặt cho các sản phẩm họ bán nên cơ quan thuế khó kiểm soát (như bán hàng qua Facebook hoặc Zalo của hộ cá nhân kinh doanh), không thể kiểm tra được doanh thu của bên bán. Trong thời gian qua, cơ quan thuế đã triển khai một số biện pháp nhưng cũng chỉ với mục đích tuyên truyền là chính và vẫn chưa thu được thuế từ các đối tượng này.

Ngoài ra, các đơn vị cho thuê máy chủ chưa hợp tác với cơ quan thuế trong việc cung cấp thông tin về các doanh nghiệp vận hành các trang web bán hàng như mong đợi. Các đơn vị này cho thuê máy chủ cho rằng do cơ chế bảo mật thông tin của khách hàng nên không thể hợp tác cung cấp thông tin. Đối với quảng cáo trực tuyến trên Google và Facebook, nhiều tổ chức, cá nhân không kê khai nộp thay thuế vì theo quy định, các doanh nghiệp Việt Nam khi đăng quảng cáo trên Google, Facebook sẽ phải khấu trừ lại thuế mà hai đại công ty công nghệ này phải trả. Tuy nhiên, có một số trường hợp cá nhân quảng cáo trên Google và Facebook không khấu trừ thuế trước khi chi trả cho hai doanh nghiệp này nên cơ quan thuế bị thất thu. 

Một khó khăn nữa liên quan đến hóa đơn vì ở Việt Nam vẫn chủ yếu sử dụng hóa đơn giấy trong các giao dịch TMĐT và số lượng hóa đơn giấy hiện chiếm gần 92% tổng số hóa đơn, phần còn lại là hóa đơn điện tử. Hiện chưa có chế tài bắt buộc các doanh nghiệp TMĐT phải sử dụng hóa đơn điện tử nên cơ quan thuế đang gặp khó khăn trong vấn đề quản lý kê khai thuế. “Ngành thuế đang trình chính phủ đề án triển khai sử dụng hoá đơn điện tử, hy vọng đề án này sẽ góp phần giải quyết vấn đề quản lý thuế trong TMĐT khi được thông qua,” bà Mai nói.

Bà Mai cho biết cơ quan thuế mới bắt đầu triển khai việc thu thuế từ các hoạt động TMĐT nên việc gặp  khó khăn và vướng mắc là điều không thể tránh khỏi. Liên quan đến các hoạt động bán hàng trên Facebook, bà cho biết thêm rằng Cục Thuế Hà Nội và TPHCM đã gửi thông báo đến hàng chục nghìn tài khoản, đề nghị chủ tài khoản đến tự kê khai và tự xác định thuế phải nộp. Các cơ quan này cũng phối hợp với cơ quan truyền thông, ngân hàng thương mại… trong việc tuyên truyền, tổ chức thu thuế với cá nhân nộp đầy đủ nghĩa vụ thuế theo quy định.

Với các công ty tham gia kinh doanh vận tải  theo hợp đồng hay Agoda, Bộ Tài Chính có văn bản hướng dẫn các công ty này kê khai nộp thuế nhà thầu và khấu trừ số thuế phải nộp trước khi trả cho các cá nhân có dịch vụ vận tải (lái xe) cũng như hướng dẫn về chính sách thuế cho hoạt động kinh doanh đặt hàng trực tuyến.

Các cơ quan liên quan cũng phối hợp với các nhà mạng để xác định địa điểm kinh doanh, giao hàng; phối hợp với hội đồng tư vấn thuế xã phường để quản lý các cá nhân kinh doanh hiệu quả hơn; yêu cầu các doanh nghiệp, người nộp thuế có trách nhiệm kê khai khấu trừ cho tổ chức nước ngoài kinh doanh TMĐT có thu nhập phát sinh tại Việt Nam.

Hoàn thiện quy định thuế

Hiện Tổng Cục thuế được giao chủ trì cùng bộ Tài Chính nghiên cứu xây dựng Luật quản lý thuế sửa đổi, trong đó sẽ có một chương về TMĐT và giao dịch điện tử. Bà Mai cho hay dự kiến dự luật này sẽ được đưa ra bàn thảo tại kỳ họp Quốc hội thứ 2 trong năm 2018, được thông qua vào năm 2019 và có hiệu lực từ ngày 1-1-2020.

Theo Tổng Cục thuế, TMĐT là vấn đề mới và để có cơ sở cho cơ quan nhà nước và doanh nghiệp thực hiện, Bộ Tài Chính đã đề xuất một số giải pháp về Luât quản lý thuế sửa đổi. Thứ nhất là sửa đổi một số nội dung của luật thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân cho các hoạt động xuất nhập khẩu để đảm bảo các văn bản bao quát hết các đối tượng và các hình thức kinh doanh TMĐT ở Việt Nam.

Về quản lý thuế, cần có các quy định rõ ràng về các hình thức giao dịch điện tử và các giải pháp nhằm hỗ trợ nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế trong TMĐT và có thể xem xét việc thành lập một bộ phận ở Tổng Cục thuế để rà soát các hoạt động kinh doanh TMĐT. Ngoài ra, các cơ quan chuyên trách cần nghiên cứu pháp luật và thông lệ quản lý thuế trong lĩnh vực TMĐT của các nước trên thế giới, các hình thức kinh doanh TMĐT xuyên biên giới để có thể đưa ra những quy định, giải pháp khả thi và phù hợp với thông lệ quốc tế cho việc áp dụng tại Việt Nam.

Ngành thuế cũng cần cải thiện tính năng của cổng thông tin điện tử nhằm tạo điều kiện cho các tổ chức cá nhân đăng ký và nộp thuế điện tử.

Sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ ngành cũng được đề cập đến như là một trong những giải pháp nhằm tăng tính hiệu quả của công tác quản lý thuế đối với các hoạt động TMĐT. Luật quản lý thuế cũng đề cập trách nhiệm của các bộ ngành, trong đó Ngân hàng Nhà nước chủ trì phối hợp với Bộ Tài chính nghiên cứu thực hiện các giải pháp về thanh toán, xây dựng và phát triển hệ thống thanh toán TMĐT quốc gia, các tiện ích thanh toán điện tử rộng rãi để sử dụng cho mô hình thương mại này.

Đồng thời cần nghiên cứu và đề xuất các giải pháp khả thi để việc thanh toán của các dịch vụ xuyên biên giới phải được thực hiện thông qua cổng thanh toán nội địa của Công ty cổ phần thanh toán quốc gia Việt Nam (NAPAS). Mục đích là nhằm tạo điều kiện cho cơ quan thuế có cơ sở kiểm soát doanh thu các dịch vụ TMĐT cũng như khấu trừ các dịch vụ thuế cho các tổ chức nước ngoài. Nhiệm vụ của Bộ Thông tin và Truyền thông là yêu cầu Google, Facebook cần thiết lập đầu mối ở Việt Nam để phối hợp chặt chẽ việc khai báo thuế nhà thầu đối với các dịch vụ của nước ngoài cung cấp cho các tổ chức cá nhân Việt Nam.

“Dự kiến, Luật quản lý thuế sửa đổi dự kiến sẽ được đưa ra để lấy ý kiến các bộ ngành, doanh nghiệp,” bà Mai nói. Bà mong rằng các đơn vị sẽ tích cực tham gia đóng góp ý kiến nhằm giúp bổ sung, hoàn thiện các quy định, văn bản liên quan để phù hợp với thực tế, có tính khả thi cao khi được ban hành và áp dụng.

Hiệp hội TMĐT Việt Nam cho rằng, việc Bộ Tài chính xây dựng Luật quản lý thuế (sửa đổi) là bước khởi đầu quan trọng trong công tác quản lý thuế đối với TMĐT. Hiệp hội này khuyến nghị các tổ chức và doanh nghiệp liên quan đến kinh doanh trực tuyến cần tham gia, góp ý cho dự luật dựa trên thực tế là quy mô bán lẻ trực tuyến của Việt Nam còn thấp (đạt 5 tỉ đô la Mỹ trong năm 2016).

Do vậy, việc quản lý thuế trong lĩnh vực TMĐT không nên gây ra những trở ngại mới, hạn chế đà tăng trưởng. Cần tính toán kỹ hiệu quả kinh tế-xã hội của việc quản lý thu thuế TMĐT và chi phí bỏ ra cho thu thuế phải thấp hơn đáng kể so với số thuế thu được là một trong các tiêu chí quan trọng cần tính tới khi thu thuế TMĐT. Điều không kém phần quan trọng là chính sách quản lý thuế không nên đặt mục tiêu tận thu mà cần thúc đẩy tạo nguồn thu lớn từ kinh doanh trực tuyến.

Việc thu thuế cần gắn với giải pháp đẩy mạnh việc thanh toán không dùng tiền mặt để tăng tính hiệu quả của công tác thu thuế trong lĩnh vực này. Các vấn đề khác nên được xem xét liên quan đến đối tượng khó thu thuế là các hộ gia đình và cá nhân với doanh thu không lớn. Các cơ quan cần triển khai các giải pháp để giảm bớt khó khăn và sự thất thu thuế khi thu thuế kinh doanh TMĐT đối với các hộ kinh doanh cá nhân như hiện nay.

TIN BÀI LIÊN QUAN
Chia sẻ:
   
CÙNG CHUYÊN MỤC
Giấy phép Báo điện tử số: 2302/GP-BTTTT, cấp ngày 29/11/2012