Liệu lối làm ăn chụp giật có đang được cổ vũ
Thứ Sáu,  11/5/2018, 08:31 

Liệu lối làm ăn chụp giật có đang được cổ vũ

Tư Hoàng

Mức tăng thu nhập của các hộ gia đình, sự mở rộng của hệ thống tài chính, cũng như mức tiêu dùng một số mặt hàng xa xỉ sẽ thấy dường như đời sống ở Việt Nam đang khấm khá lên. Ảnh: THÀNH HOA

(TBKTSG) - Tại hội thảo về các thành phần kinh tế Việt Nam do Viện Kinh tế Việt Nam tổ chức mới đây, Tiến sĩ Huỳnh Thế Du, Giám đốc đào tạo của Đại học Fulbright, cho rằng môi trường làm ăn ở Việt Nam đang khuyến khích đầu cơ và cổ vũ kinh doanh chụp giật.

Phồn hoa giả tạo với người dân và cả nhà nước

Ông Du nhận xét, nhìn vào GDP bình quân đầu người tính theo đô la Mỹ, mức tăng thu nhập của các hộ gia đình, sự mở rộng của hệ thống tài chính, cũng như mức tiêu dùng một số mặt hàng xa xỉ sẽ thấy dường như đời sống ở Việt Nam đang khấm khá lên. Tuy nhiên có ba khả năng gây “ảo giác” hay “phồn hoa giả tạo”.

Thứ nhất, càng lạm phát càng “giàu có”. Theo tính toán của ông Du, trong giai đoạn 2006-2015, tăng trưởng GDP bình quân đầu người tính theo giá cố định bằng tiền đồng chỉ là 4,9%/năm. Tuy nhiên, GDP bình quân đầu người quy đổi sang đô la Mỹ theo giá cố định tăng đến 9,5%/năm trong giai đoạn này do đồng tiền được định giá cao. Vì thế, nhờ lạm phát cao mà GDP đầu người tính sang đô la Mỹ vượt qua ngưỡng 2.000.

Thứ hai, trục trặc trong số liệu thống kê. Trích dẫn các báo cáo điều tra lao động việc làm năm 2010 và 2015 của Tổng cục Thống kê, ông cho biết, tiền lương (thực) bình quân của người làm công ăn lương ở nông thôn và thành thị giai đoạn 2007-2015 chỉ tăng lần lượt là 4,8% và 0,6%/năm, thấp hơn con số tổng thể 5,5%. Những con số này mâu thuẫn với nhau.

Thứ ba, những khoản “trời cho” từ tham nhũng, “trợ cấp” từ kiều hối hoặc các nguồn khác. Phân tích tiền gửi tiết kiệm và thu nhập thực bình quân của các hộ gia đình, ông khẳng định có “một lượng tiền rất lớn đến từ đâu đó”.

Sự phồn hoa hiện nay, rất có thể là do dòng vốn quá nhiều đổ vào nền kinh tế làm nhiều người có nhiều tiền chứ thực chất các hoạt động kinh tế tạo ra giá trị không nhiều. Việc một số ít có thể giàu có rất nhanh, để lại hiệu ứng rất tiêu cực vì nó tạo ra tâm lý muốn giàu xổi và những nỗ lực tạo ra giá trị thực sự cho xã hội bị triệt tiêu. 

Trong khi đó, theo nhận xét của ông Du, Nhà nước cũng vung tay quá trán. Liên tục trong 10 năm, Việt Nam thu 24,6% GDP mà chi tới 29,7% GDP, tức là hao hụt ngân sách 5,1% GDP. Bức tranh này cho thấy chi tiêu ngân sách so với GDP của Việt Nam đã rất cao và cao hơn hẳn các nước khác, nhưng đến nay lại không đủ cho chi tiêu thường xuyên. Đây là điều rất đáng lo ngại. Việc chi tiêu quá tay một phần là do cấu trúc thể chế và cách thức phân bổ ngân sách mang tính ban phát hay lấy lòng các địa phương.  

Thêm dầu vào lửa cho doanh nghiệp

Trước khi gia nhập WTO, các doanh nghiệp Việt Nam đã chí thú làm ăn, tận dụng được lợi thế của Việt Nam để tập trung vào các hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra của cải cho xã hội. Sau khi vào WTO, nhiều doanh nghiệp quay sang đầu cơ tài sản, từ bỏ các hoạt động sản xuất kinh doanh chính, dẫn đến thua lỗ và nợ xấu tăng cao.

Sau khi gia nhập WTO, kinh tế Việt Nam đã bị nhiễm “căn bệnh Hà Lan” (Dutch Disease), được hiểu là dòng vốn lớn chảy vào làm đồng tiền trong nước lên giá dẫn đến hàng hóa sản xuất trong nước trở nên đắt đỏ hơn so với hàng hóa của các nước khác. Hậu quả là khu vực sản xuất trong nước trở nên kém cạnh tranh hơn.

Nghiêm trọng ở chỗ là sự bất hợp lý trong các chính sách vĩ mô trong thời gian qua đã làm cho căn bệnh này trở nên trầm trọng hơn. Đầu tiên phải kể đến sự bị động trong việc ứng phó với dòng vốn khổng lồ từ bên ngoài đổ vào Việt Nam trong năm 2007. Lúc bấy giờ, dường như Ngân hàng Nhà nước chỉ chú trọng vào việc duy nhất là tung tiền đồng ra để mua đô la Mỹ mà “quên” mất các giải pháp trung hòa. Hậu quả là nền kinh tế bị “ngập lụt” tiền đồng. Lạm phát bắt đầu phi mã từ cuối năm 2007 và chạm mốc gần 30% vào cuối quí 1-2008. Việc thắt chặt tiền tệ để kiềm chế lạm phát chỉ được thực hiện trong một thời gian ngắn. Lấy lý do ứng phó với khủng hoảng tài chính thế giới và suy giảm sản xuất kinh doanh trong nước, chính sách tiền tệ đã tiếp tục được nới lỏng.

Việc “cố gắng” ổn định tỷ giá trong bối cảnh lạm phát cao như cú đánh kép vào khu vực sản xuất trong nước. Trong gian đoạn 2006-2012, mức giá chung của cả nền kinh tế Việt Nam đã tăng gấp đôi, tỷ giá tiền đồng so với đô la Mỹ chỉ tăng 30% đã làm cho các sản phẩm nhập vào Việt Nam (máy tính, điện thoại của Apple chẳng hạn) rẻ hơn, trong khi gạo hay các sản phẩm khác của ta đắt đỏ hơn. Do vậy, không có gì ngạc nhiên khi mà rất nhiều doanh nghiệp Việt Nam gặp khốn khó trong hoạt động sản xuất kinh doanh buộc phải đóng cửa hay phá sản, cho dù họ không hề có những hoạt động đầu cơ tài sản.

Hơn thế, việc cho phép sở hữu các ngân hàng quá dễ dàng và thất thoát trong đầu tư và chi tiêu công do tham nhũng đã làm tăng tính “liều mạng” đầu cơ vào các tài sản. Ước muốn và khả năng giàu nhanh chóng mà không phải làm gì đã “thực tế hơn” đối với nhiều người.

Hậu quả là nhiều người trở nên “lười hơn”, chỉ muốn “ngồi mát ăn bát vàng”, chứ không còn chí thú làm ăn như trước. Hơn thế, “căn bệnh Hà Lan” đã làm cho sản xuất trong nước kém cạnh tranh hơn nên có muốn thì cũng khó mà mở rộng hoạt động.

Một nghiên cứu của Chương trình Giảng dạy kinh tế Fulbright chỉ ra rằng, ba trong bốn động cơ của cỗ máy tăng trưởng Việt Nam gồm: khu vực kinh tế nhà nước, khu vực kinh tế dân doanh và khu vực nông nghiệp đang gặp trục trặc. Chỉ có một ngoại lệ là khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) vẫn đang ăn nên làm ra, do họ đã tận dụng được những lợi thế của nền kinh tế Việt Nam và miễn nhiễm được với những tác động tiêu cực.

Do vậy, nếu bỏ khu vực FDI sang một bên và chỉ phân tích ba khu vực còn lại thì nền kinh tế Việt Nam sẽ bi đát hơn nhiều, mà nguyên nhân chủ yếu là do ta chứ không phải do tác động từ bên ngoài.

Thế tiến thoái lưỡng nan

Trước khi gia nhập WTO, các doanh nghiệp Việt Nam đã chí thú làm ăn, tận dụng được lợi thế của Việt Nam để tập trung vào các hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra của cải cho xã hội. Kết quả là các doanh nghiệp ăn nên làm ra, tăng trưởng kinh tế cao và tạo tâm lý lạc quan, hồ hởi cho toàn xã hội. Ngược lại, sau khi gia nhập WTO, nhiều doanh nghiệp và cá nhân đã quay sang đầu cơ tài sản, từ bỏ các hoạt động sản xuất kinh doanh chính, dẫn đến thua lỗ và nợ xấu tăng cao.

Nhiều doanh nghiệp đang rơi vào tình thế tiến thoái lưỡng nan. Nếu buông các hoạt động đầu cơ để tập trung vào hoạt động kinh doanh cốt lõi (ví dụ dịch vụ taxi chẳng hạn) thì sẽ tạo ra giá trị gia tăng cho xã hội. Tuy nhiên, khi đó phần mất từ hoạt động đầu cơ sẽ cao hơn rất nhiều phần được từ hoạt động kinh doanh, và chủ doanh nghiệp có khả năng sẽ trắng tay.

Do vậy, hành vi hợp lý của nhiều doanh nghiệp là tiếp tục tập trung nguồn lực để duy trì các hoạt động có tính đầu cơ với hy vọng thị trường tài sản sẽ “nóng” trong tương lai để không chỉ tránh được tán gia bại sản mà còn có cơ hội làm giàu trở lại. Lúc này, nợ xấu ở các ngân hàng khó mà giải quyết và nguồn lực không được dành cho hoạt động sản xuất kinh doanh thực sự. Hậu quả là kinh tế Việt Nam tiếp tục khó khăn.

Hơn thế, còn một vấn đề rắc rối nữa là không đơn giản để một số người đã quen với mức thu nhập cao chuyển sang từ bỏ những hoạt động đầu cơ tài sản để quay lại các hoạt động sản xuất kinh doanh, với mức thu nhập thấp hơn nhiều. Một người đã khẳng định được tên tuổi trong ngành tài chính cho rằng có khi Việt Nam phải mất cả một thế hệ doanh nhân nữa may ra mới làm lại được.

Trong hoàn cảnh hiện nay, nếu tiếp tục bơm tiền thì nhiều người vẫn có cơ hội níu kéo các hoạt động đầu cơ đang thua lỗ và “mặc kệ” các hoạt động kinh doanh chính yếu có hiệu quả của mình. Do vậy, thắt chặt tín dụng để buộc các doanh nghiệp phải cơ cấu lại có lẽ là giải pháp. Những người kinh doanh bất cẩn sẽ phải trắng tay, để những người có khả năng hơn tiếp quản và sử dụng các nguồn lực của xã hội hiệu quả hơn - đây chính là triết lý cơ bản của phá sản, hay sự phá hủy sáng tạo. Đương nhiên, đây chỉ là giải pháp cho vấn đề này và Việt Nam cần tiến hành ngay một sự cải cách sâu rộng, toàn diện và thực chất.

TIN BÀI LIÊN QUAN
Chia sẻ:
   
CÙNG CHUYÊN MỤC
Giấy phép Báo điện tử số: 2302/GP-BTTTT, cấp ngày 29/11/2012