Tường thuật trực tiếp Diễn đàn "Ngân hàng 2018: Hướng tới phát triển bền vững"
Thứ Ba,  8/5/2018, 09:29 

Tường thuật trực tiếp Diễn đàn "Ngân hàng 2018: Hướng tới phát triển bền vững"

Nhóm PV

(TBKTSG Online) - Sáng nay 8-5, Thời báo Kinh tế Sài Gòn đã phối hợp với Ngân hàng Nhà nước (NHNN) tổ chức Diễn đàn toàn cảnh Ngân hàng: “Ngân hàng 2018: Hướng tới phát triển bền vững” tại Trung tâm Hội nghị quốc tế - 11 Lê Hồng Phong – Hà Nội.

Xem tọa đàm phiên 1 tổng quan về chính sách tiền tệ tại đây

Phiên 2: Trao đổi về tái cơ cấu và xử lý nợ xấu

Giải pháp nâng cao an toàn thanh toán trong hệ thống ngân hàng

Toàn cảnh diễn đàn

Phát biểu tại diễn đàn, Phó Thống đốc NHNN Nguyễn Kim Anh cho hay, ngành ngân hàng đã và đang quyết liệt triển khai cơ cấu lại tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu để đảm bảo sự an toàn, lành mạnh, bền vững của tổ chức tín dụng, từ đó tạo tiền đề vững chắc để kiềm chế lạm phát, đổi mới mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu nền kinh tế theo chủ trương của Đảng, Quốc hội và Chính phủ.

Trong bối cảnh đó, Thời báo Kinh tế Sài Gòn tổ chức Diễn đàn toàn cảnh Ngân hàng 2018: Hướng tới phát triển bền vững, thay mặt lãnh đạo NHNN, tôi xin cảm ơn sáng kiến này của Thời Báo Kinh tế Sài Gòn, cảm ơn các đại biểu đã tới tham dự diễn đàn. Tôi tin tưởng tại diễn đàn, NHNN sẽ nhận được nhiều ý kiến quý báu cho việc hoạch định chính sách trong thời gian tới.

Trong những năm qua, điều hành chính sách tiền tệ của NHNN đã đạt được những thành công nhất định trong việc ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, kiểm soát lạm phát, ổn định giá trị đồng tiền và thị trường tiền tệ, tái cơ cấu hệ thống tổ chức tín dụng và xử lý nợ xấu, đã thiết lập nền tảng vững chắc của hệ thống và ổn định kinh tế vĩ mô. Nhờ đó, kinh tế tăng trưởng ổn định, các cân đối kinh tế vĩ mô được giữ vững, vị thế Việt Nam dần được nâng cao thời gian qua.

Nhiều tổ chức quốc tế đánh giá cao sự ổn định của hệ thống ngân hàng Việt Nam, trong đó Moody đã nâng triển vọng xếp hạng tín nhiệm của hệ thống ngân hàng Việt Nam từ ổn định lên tích cực. Bloomberg đánh giá đồng Việt Nam là một trong những đồng tiền ổn định nhất châu Á.

Phó Thống đốc NHNN Nguyễn Kim Anh.

Sau hơn 10 năm kể từ khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Việt Nam đã và đang hội nhập quốc tế sâu hơn với độ mở kinh tế ngày càng lớn. Thị trường tài chính tiền tệ ngày càng hội nhập sâu rộng với thị trường tài chính toàn cầu. Năm 2018 là năm bản lề thực hiện các Nghị quyết Đại hội 12 của Đảng, Nghị quyết của Quốc hội về phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2016-2020. Chính phủ, Quốc hội tiếp tục hướng tới mục tiêu tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, đảm bảo các cân đối lớn của nền kinh tế, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững.

Như vậy, nhiệm vụ ngành ngân hàng đạt được trong bối cảnh trong và ngoài nước có nhiều  thuận lợi và thách thức đan xen.

Kinh tế thế giới được dự báo phục hồi khả quan hơn. Trong nước, nền tảng kinh tế vĩ mô ổn định, điều kiện kinh doanh ngày càng ổn định theo định hướng Chính phủ kiến tạo, khuyến khích và thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước, đẩy mạnh thực thi các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.

Tuy nhiên, vẫn còn những rủi ro thách thức, ổn định lạm phát theo mục tiêu khoảng 4%, trong điều kiện giá cả hàng hóa thế giới có nhiều biến động; dòng vốn vào tiếp tục gia tăng theo động thái thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước cũng như việc gọi vốn của khối doanh nghiệp tư nhân, một mặt giúp NHNN tăng dự trữ ngoại hối nhưng mặt khác, áp lực trong việc trung hòa và điều tiết tiền tệ. Thị trường tài chính toàn cầu biến động khó lường, xu hướng bảo hộ mậu dịch gia tăng, xung đột thương mại giữa những nền kinh tế phát triển...

Các nhân tố tác động tới điều hành chính sách tiền tệ của NHNN đòi hỏi ngân hàng phải theo dõi sát diễn biến kinh tế vĩ mô trong và ngoài nước, phối hợp chặt chẽ với các chính sách kinh tế vĩ mô khác để kiên trì mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô. Quá trình cơ cấu lại các tổ chức tín dụng, xử lý nợ xấu tiếp tục đạt được những kết quả tích cực.

Nợ xấu được kiểm soát duy trì dưới 3%, đảm bảo hoạt động của các tổ chức tín dụng an toàn, lành mạnh, bước đầu đạt được những mục tiêu, nhiệm vụ đề ra tại Đề án cơ cấu lại các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016-2020 và Nghị quyết 42 được Quốc hội thông qua ngày 26/6/2017 về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng.

Nợ xấu bước đầu đạt dược mục tiêu, nhiệm vụ đề ra. Mặc dù vậy, công tác tái cơ cấu và xử lý nợ xấu còn nhiều khó khăn, thách thức trong mục tiêu thực hiện đúng lộ trình đề ra, đòi hỏi quyết tâm của các bộ, ngành địa phương. Quá trình cơ cấu lại các tổ chức tín dụng, xử lý nợ xấu tiếp tục gặp nhiều khó khăn, trở ngại, thách thức trong việc triển khai đúng mục tiêu, lộ trình đề ra, đòi hỏi sự quyết tâm của NHNN và sự vào cuộc quyết liệt của các bộ, ngành, địa phương. Bên cạnh đó, cần tập trung xây dựng cơ chế chính sách, hệ thống pháp lý đồng bộ, thống nhất, tăng cường tính minh bạch, nâng cao năng lực quản trị, điều hành của tổ chức tín dụng, phù hợp với thông lệ quốc tế và thực tiễn tại Việt Nam nhằm đảm bảo sự an toàn, lành mạnh, phát triển bền vững của các tổ chức tín dụng.

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang là cơ hội nâng cao năng suất, chất lượng, tạo ra các dịch vụ tài chính phù hợp với nhu cầu, đòi hỏi ngày càng cao của khách hàng. Ngân hàng nhà nước nhận thức được thách thức, cơ hội đối với ngành ngân hàng Việt Nam trước tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

NHNN xác định một số công nghệ hiện đại hỗ trợ cho ngành ngân hàng thích ứng phát triển trong bối cảnh công nghiệp 4.0 như: Điện toán đám mây, kết nối vạn vật, tự động hóa chương trình bằng robot… Cùng với việc nghiên cứu, tham mưu, đề xuất Chính phủ tạo lập hành lang pháp lý minh bạch và hệ sinh thái lành mạnh theo thông lệ quốc tế thời gian qua, NHNN đã cố gắng chỉ đạo cụ thể các tổ chức tín dụng chủ động nắm bắt cơ hội hợp tác phát triển dịch vụ, sản phẩm để đem lại trải nghiệm sản phẩm, dịch vụ mới cho khách hàng nhưng vẫn đảm bảo an toàn, bảo mật hệ thống, công nghệ thông tin ngân hàng và thông tin khách hàng.

Sau bài phát biểu của ông Phó Thống đốc NHNN Nguyễn Kim Anh là tham luận của ông ông Phạm Thanh Hà, Vụ Chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước. Tòa soạn lược ghi và đặt tít cho tham luận này.

"Điều hành chính sách tiền tệ còn nhiều gian nan"

Tại diễn đàn, ông Phạm Thanh Hà, Vụ Chính sách tiền tệ, NHNN cho hay, nhiệm vụ trọng tâm của công tác điều hành chính sách tiền tệ (CSTT) là ổn định giá trị đồng tiền, thông qua chỉ tiêu lạm phát, được qui định tại Luật Ngân hàng Nhà nước (NHNN) 2010. Trong những năm qua, điều hành CSTT của NHNN đã đạt được những thành công nhất định trong ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

Nhiều thành quả

Ông Phạm Thanh Hà, Vụ Chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước. Ảnh: Kỳ Anh

Trong 10 năm gần đây, lạm phát được kiểm soát, giảm dần từ mức cao nhất hai con số trong năm 2008 xuống mức một con số và liên tục duy trì ở mặt bằng thấp, ổn định từ năm 2012 đến nay. Đặc biệt, năm 2017 vừa qua lạm phát bình quân ở mức 3,53%, thấp hơn mục tiêu Quốc hội đặt ra (khoảng 4%).

Bên cạnh đó, mặt bằng lãi suất giảm mạnh từ năm 2012 và giữ ổn định trong năm 2017, lãi suất cho vay lĩnh vực ưu tiên tiếp tục giảm. Tăng trưởng tín dụng phù hợp với cân đối vĩ mô, đi đôi với chất lượng tín dụng và tập trung vào các lĩnh vực sản xuất, lĩnh vực ưu tiên;  chính sách tín dụng theo ngành kinh tế có hiệu quả thiết thực, hỗ trợ tăng trưởng GDP bền vững, năm 2017 đạt mức cao nhất trong 10 năm qua.

Hơn nữa, tỉ giá trung tâm được điều hành linh hoạt, kết hợp đồng bộ các công cụ CSTT, hạn chế tình trạng đầu cơ, găm giữ ngoại tệ, nhờ vậy NHNN liên tục mua được lượng lớn ngoại tệ để tăng dự trữ ngoại hối cao nhất từ trước tới nay; lượng tiền mặt đưa ra lưu thông được trung hòa hợp lý, góp phần ổn định lạm phát, lãi suất và tỉ giá.

Ngoài ra, thị trường tiền tệ, ngoại hối ổn định, lạm phát được kiểm soát, giúp neo vững kỳ vọng lạm phát, củng cố niềm tin của nền kinh tế và giới đầu tư vào đồng Việt Nam, góp phần tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp. Các tổ chức quốc tế đánh giá cao sự ổn định của hệ thống ngân hàng Việt Nam, theo đó Moody’s đã nâng mức xếp hạng tín nhiệm của hệ thống ngân hàng Việt Nam từ “ổn định” lên “tích cực”.

Kết quả kinh tế vĩ mô năm 2017 là thành quả nỗ lực chung của nền kinh tế, đặc biệt là sự chỉ đạo sát sao, quyết liệt của Chính phủ, môi trường kinh tế vĩ mô ổn định được duy trì trong thời gian qua tạo niềm tin vững chắc cho nhà đầu tư. Kết quả này phản ánh sự đóng góp quan trọng từ công tác điều hành chính sách tiền tệ của NHNN.

Cơ hội, thách thức, kỳ vọng năm 2018

Theo ông Hà, sau hơn 10 năm kể từ khi gia nhập WTO, tiến trình hội nhập mang lại nhiều cơ hội nhưng cũng đặt ra không ít thách thức đối với nền kinh tế và điều hành vĩ mô của Việt Nam. Vì vậy, điều hành CSTT tiếp tục kiên trì bám sát thị trường, chống đỡ tốt hơn đối với những cú sốc, diễn biến khó lường để kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng bền vững.

Năm 2018, kinh tế thế giới phục hồi khả quan, theo dự báo của IMF tăng trưởng khoảng 3,9%, đặc biệt các nền kinh tế lớn là đối tác hàng đầu của Việt Nam tiếp tục tăng trưởng tích cực; giá hàng hóa cơ bản trên thế giới phục hồi tác động tích cực đến tăng trưởng, xuất khẩu, thu ngân sách.

Trong nước, kinh tế vĩ mô, lạm phát ổn định thời gian qua kết hợp với môi trường đầu tư kinh doanh cải thiện, cải cách hành chính, khuôn khổ pháp lý thông thoáng… là nền tảng cơ bản khuyến khích đầu tư tư nhân, khởi nghiệp và thu hút vốn nước ngoài; ngoài ra đẩy mạnh triển khai các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới hỗ trợ mở rộng thị trường bền vững, thúc đẩy cải cách trong nước, tạo điều kiện để doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Bên cạnh các yếu tố thuận lợi, còn tồn tại nhiều nhân tố ảnh hưởng đến việc ổn định lạm phát theo mục tiêu 4% trong điều kiện giá hàng hóa thế giới, đặc biệt là giá dầu mỏ có rủi ro gia tăng, lộ trình điều chỉnh giá các mặt hàng Nhà nước quản lý tiếp tục được triển khai, tiêu dùng gia tăng do tổng cầu của nền kinh tế khởi sắc, thị trường chứng khoán tăng trưởng nhanh tạo hiệu ứng kích thích chi tiêu do giá tài sản tăng và kỳ vọng lạc quan về triển vọng kinh tế dưới tác động của các hiệp định FTA...

Ngoài ra, CSTT thận trọng của các ngân hàng trung ương (NHTW) lớn cộng hưởng với diễn biến phức tạp của đồng đô la Mỹ,… cũng là các yếu tố tiềm ẩn ảnh hưởng lớn đến hiệu lực và hiệu quả điều hành CSTT trong năm 2018.

Để xử lý và hóa giải các áp lực và rủi ro đó đòi hỏi cần bám sát diễn biến lạm phát để tăng cường sự phối hợp đồng bộ, chặt chẽ giữa chính sách tài khóa - tiền tệ - quản lý giá để kiểm soát lạm phát 4% theo mục tiêu đặt ra, từ đó tạo nền tảng vững chắc duy trì ổn định kinh tế vĩ mô.

Việc điều hành tỉ giá theo hướng ổn định, giảm lãi suất cho vay khi có điều kiện theo chủ trương của Chính phủ, là thách thức không nhỏ trước bối cảnh thị trường tài chính toàn cầu, dòng vốn vào/ra biến động khó lường tác động bởi xu hướng CSTT thận trọng của các NHTW chủ chốt, đặc biệt là Fed, cộng hưởng với diễn biến phức tạp của đồng đô la, chính sách cải cách thuế của chính quyền Mỹ, xu hướng bảo hộ thương mại, các xung đột địa chính trị tại các khu vực,... đang ngày càng gia tăng.

Xác định được thuận lợi và thách thức, cụ thể hóa mục tiêu của Chính phủ, từ đầu năm 2018 NHNN đặt mục tiêu điều hành CSTT chủ động, linh hoạt, thận trọng, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm kiểm soát lạm phát theo mục tiêu đề ra, ổn định kinh tế vĩ mô, góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý; bảo đảm thanh khoản của tổ chức tín dụng (TCTD), ổn định thị trường tiền tệ, ngoại hối.

Định hướng tổng phương tiện thanh toán tăng khoảng 16%, tín dụng tăng khoảng 17%, có điều chỉnh phù hợp với diễn biến, tình hình thực tế.

Giải pháp chính sách tiền tệ trọng tâm

Theo ông Hà, điều hành CSTT ổn định, lạm phát phù hợp với mục tiêu 4% trong điều kiện giá hàng hóa thế giới biến động; lộ trình điều chỉnh giá các mặt hàng Nhà nước quản lý tiếp tục được triển khai; tiêu dùng nội địa và thị trường chứng khoán tăng trưởng tốt có thể tạo áp lực cầu kéo lên lạm phát,… là thách thức cho năm 2018, đòi hỏi tăng cường sự phối hợp chặt chẽ, hài hòa giữa CSTT, chính sách tài khóa và quản lý giá của Nhà nước.

Ngoài ra, dòng vốn vào tiếp tục xu hướng tăng trưởng mạnh mẽ nhờ thu hút vốn FDI, FII, cộng hưởng việc bán vốn nhà nước diễn ra thuận lợi…, một mặt giúp NHNN tăng dự trữ ngoại hối nhưng mặt khác gây áp lực cho NHNN trong việc trung hòa có hiệu quả lượng tiền mặt đưa ra lưu thông để đảm bảo không kích hoạt rủi ro lạm phát.

NHNN tiếp tục điều hành lãi suất phù hợp với cân đối vĩ mô, diễn biến lạm phát và thị trường tiền tệ. Trong điều kiện lạm phát được kiểm soát thấp hơn mục tiêu, thị trường ổn định, kinh tế vĩ mô thuận lợi, NHNN kiên trì điều hành công cụ CSTT, hỗ trợ TCTD có điều kiện để phấn đấu giảm lãi suất cho vay trên cơ sở đảm bảo hoạt động an toàn, lành mạnh tài chính.

Trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế khả quan, cầu vốn của nền kinh tế tiếp tục gia tăng, (nhất là vốn trung dài hạn phục vụ sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp) và phụ thuộc chủ yếu vào tín dụng ngân hàng đặt ra thách thức cho các TCTD trong việc quản trị, cân đối vốn và tác động đến sự vận hành hiệu quả, bền vững của thị trường tiền tệ. Trong điều kiện đó, đòi hỏi phải có giải pháp dài hạn, căn bản hỗ trợ thị trường và doanh nghiệp thông qua việc đẩy nhanh triển khai các chính sách, giải pháp phát triển thị trường trái phiếu, chứng khoán qua đó giảm dần sự lệ thuộc của doanh nghiệp vào tín dụng ngân hàng (đặc biệt là tín dụng trung dài hạn); tiếp tục triển khai quá trình tái cơ cấu nền kinh tế và tăng cường xử lý nợ xấu.

Bên cạnh đó, NHNN tiếp tục điều hành linh hoạt tỉ giá trung tâm trên cơ sở bám sát diễn biến kinh tế vĩ mô, tiền tệ trong và ngoài nước và mục tiêu CSTT, ổn định thị trường ngoại tệ, từ đó tạo điều kiện để tăng dự trữ ngoại hối Nhà nước khi thị trường thuận lợi. Phối hợp đồng bộ, linh hoạt các công cụ CSTT nhằm duy trì chênh lệch lãi suất Việt Nam đồng và đô la Mỹ ở mức hợp lý, qua đó góp phần hỗ trợ ổn định tỉ giá và thị trường ngoại tệ, nâng cao vị thế và giá trị Việt Nam đồng.

Hơn nữa, NHNN tiếp tục thực thi các giải pháp kiểm soát tăng trưởng tín dụng theo hướng nâng cao chất lượng tín dụng, tập trung vốn vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng gắn với triển khai các chương trình tín dụng ngành, lĩnh vực, tín dụng chính sách. Kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với các ngành, lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro, qua đó đảm bảo hoạt động của các TCTD phát triển bền vững, lành mạnh. Tiếp tục kiên trì thực hiện lộ trình hạn chế tình trạng Đô la hóa trong nền kinh tế, kiểm soát nhu cầu vay vốn ngoại tệ.

Cuối cùng, NHNN tiếp tục phát huy công tác định hướng chính sách, cơ chế truyền thông hiệu quả để tạo kênh tiếp cận thông tin chính thống cho các chủ thể tham gia thị trường, tạo sự đồng thuận trong nền kinh tế đối với chính sách vĩ mô của Chính phủ nói chung và điều hành CSTT của NHNN nói riêng.

Ông Phạm Huyền Anh, Phó Chánh thanh tra Cơ quan Thanh tra giám sát ngân hàng, NHNN: “Nợ xấu đã giảm xuống dưới 2,46%”

Ông Phạm Huyền Anh, Phó Chánh thanh tra Cơ quan Thanh tra giám sát ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước (NHNN)

Với các biện pháp chỉ đạo quyết liệt của NHNN và sự nỗ lực, chủ động của các tổ chức tín dụng trong kiềm chế và xử lý nợ xấu, đặc biệt với sự ra đời của Nghị quyết 42, tỷ lệ nợ xấu nội bảng toàn hệ thống các tổ chức tín dụng tại thời điểm cuối năm 2017 đã giảm hơn so với mức 2,46% cuối năm 2016.

Nợ xấu đã giảm

Tại diễn đàn, ông Phạm Huyền Anh – Phó Chánh thanh tra Cơ quan Thanh tra giám sát ngân hàng, NHNN cho hay, trong giai đoạn 2011 - 2015, công tác tái cơ cấu và xử lý nợ xấu được triển khai quyết liệt, đồng bộ của toàn ngành ngân hàng, công tác tái cơ cấu và xử lý nợ xấu đã bước đầu đạt được một số kết quả quan trọng như: sự ổn định, an toàn hệ thống các TCTD được giữ vững và từng bước cải thiện, không để xảy ra đổ vỡ ngoài tầm kiểm soát; năng lực tài chính và quy mô hoạt động của các TCTD từng bước cải thiện; số lượng các TCTD có quy mô nhỏ, hoạt động yếu kém giảm dần; sở hữu chéo, đầu tư chéo được xử lý một bước quan trọng; khung pháp lý về tiền tệ và ngân hàng được tập trung hoàn thiện, hình thành đồng bộ hơn các chuẩn mực, thiết chế an toàn; nợ xấu tiếp tục được kiểm soát hiệu quả và duy trì ở mức dưới 3%…

Trên cơ sở tổng kết bài học kinh nghiệm và kế thừa kết quả quá trình triển khai cơ cấu lại giai đoạn 2011-2015, trong năm 2017, NHNN đã chủ động nghiên cứu, xây dựng trình Bộ Chính trị chấp thuận và Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1058/QĐ-TTg ngày 19/7/2017 phê duyệt Đề án “Cơ cấu lại hệ thống các TCTD gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016-2020”.

Đồng thời, NHNN đã tham mưu Chính phủ trình Quốc hội ban hành Nghị quyết số 42/2017/QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu của các TCTD (Nghị quyết 42) và thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các TCTD.

Sự ra đời của những văn bản quan trọng này đã tạo thêm cơ sở pháp lý vững chắc, tạo điều kiện cho ngành ngân hàng triển khai quyết liệt, đồng bộ các giải pháp về thanh tra, giám sát, cơ cấu lại gắn với xử lý nợ xấu, góp phần bảo đảm an ninh, an toàn của hệ thống các TCTD, nâng cao trật tự, kỷ cương và hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ, quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng.

Để thực hiện có hiệu quả Đề án cơ cấu lại và Nghị quyết 42, NHNN đã tham mưu Thủ tướng Chính phủ thành lập Ban Chỉ đạo cơ cấu lại hệ thống các TCTD do Thủ tướng Chính phủ làm trưởng ban, ban hành Chỉ thị về triển khai thực hiện Nghị quyết 42 . Đồng thời, NHNN đã thành lập Ban chỉ đạo cơ cấu lại hệ thống các TCTD gắn với xử lý nợ xấu của NHNN và Tiểu ban chỉ đạo xử lý nợ xấu ngành Ngân hàng, ban hành Chỉ thị về việc thực hiện Nghị quyết 42 và Đề án cơ cấu lại trong toàn ngành Ngân hàng; đồng thời, ban hành kế hoạch hành động của ngành Ngân hàng triển khai Đề án. Thực hiện kế hoạch hành động nêu trên, NHNN đã có các văn bản hướng dẫn các TCTD (theo từng nhóm, loại hình TCTD) xây dựng phương án cơ cấu lại gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2017-2020 nhằm bảo đảm khắc phục, xử lý triệt để những tồn tại, hạn chế theo đúng mục tiêu, yêu cầu của Quyết định 1058; chỉ đạo, hướng dẫn từng TCTD triển khai thực hiện Nghị quyết 42 để xử lý nhanh, dứt điểm nợ xấu và tài sản đảm bảo của các khoản nợ xấu thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị quyết; đồng thời triển khai các biện pháp phòng ngừa, hạn chế tối đa nợ xấu phát sinh và nâng cao chất lượng tín dụng tại TCTD.

Trên cơ sở đó, đến nay, công tác cơ cấu lại và xử lý nợ xấu của ngành ngân hàng sau gần một năm triển khai Đề án 1058 và Nghị quyết 42 đã đạt được một kết quả cơ bản như sau:

(i) các ngân hàng thương mại nhà nước (NHTMNN) tiếp tục đóng vai trò chi phối trong hệ thống các TCTD. Đến nay, NHNN đã thẩm định, phê duyệt phương án cơ cấu lại gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2017-2020 của 3/4 NHTMNN;

(ii) các NHTM cổ phần tập trung củng cố, chấn chỉnh toàn diện trên các mặt tài chính, quản trị và hoạt động nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh, năng lực cạnh tranh;

(iii) các TCTD nước ngoài được NHNN tăng cường quản lý, thanh tra, giám sát, đảm bảo hoạt động an toàn, đúng pháp luật. Đến nay, NHNN đã có văn bản phê duyệt phương án cơ cấu lại của 9/10 ngân hàng nước ngoài và liên doanh;

(iv) các công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính tích cực xây dựng các phương án cơ cấu lại theo các giải pháp của Đề án 1058 để nâng cao mức độ an toàn, hiệu quả kinh doanh và năng lực cạnh tranh và phù hợp với đặc thù hoạt động của loại hình TCTD phi ngân hàng;

(v) hệ thống quỹ tín dụng nhân dân tiếp tục được tăng cường, củng cố, chấn chỉnh, về cơ bản hoạt động lành mạnh, hiệu quả, theo đúng tôn chỉ đề ra;

(vi) nợ xấu tiếp tục được kiểm soát và duy trì ở mức dưới 3%. Với các biện pháp chỉ đạo quyết liệt của NHNN và sự nỗ lực, chủ động của các TCTD trong kiềm chế và xử lý nợ xấu, đặc biệt với sự ra đời của Nghị quyết 42, (tỷ lệ nợ xấu nội bảng toàn hệ thống các TCTD tại thời điểm cuối năm 2017 đã giảm hơn so với mức 2,46% cuối năm 2016).

Có thể nói trong thời gian qua, việc triển khai thực hiện công tác tái cơ cấu và xử lý nợ xấu theo Quyết định 1058, Nghị quyết 42 đã được thực hiện quyết liệt, đồng bộ, bài bản, khoa học theo chỉ đạo của Bộ Chính trị, Chính phủ..., tiếp tục đem lại hiệu quả rõ rệt, góp phần giữ vững sự ổn định và hoạt động an toàn hệ thống ngân hàng nói riêng, đóng góp vào sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế nói chung.

Vẫn còn nhiều khó khăn

Theo ông Phạm Huyền Anh, Phó Chánh thanh tra Cơ quan Thanh tra giám sát ngân hàng, công tác cơ cấu lại và xử lý nợ xấu vẫn còn gặp phải một số khó khăn, vướng mắc.

Thứ nhất là khó khăn, vướng mắc của TCTD về:

(1) thu giữ tài sản do khách hàng không hợp tác trong việc bàn giao tài sản; một số cơ quan chức năng (UBND, cơ quan công an,…) chưa phối hợp, tham gia hỗ trợ một cách tích cực để giải quyết khó khăn cho TCTD; khó khăn về mặt truyền thông trong quá trình thu giữ tài sản theo tinh thần Nghị quyết 42;

(2) điều kiện tài sản đảm bảo được xử lý phải không là tài sản tranh chấp, trong khi hiện nay chưa có hướng dẫn thế nào là tài sản đang tranh chấp, dẫn đến cách hiểu về tài sản tranh chấp giữa các cơ quan tố tụng tại nhiều nơi, nhiều cấp là khác nhau, gây khó khăn khi xử lý tài sản theo Nghị quyết 42.

Thứ hai là khó khăn, vướng mắc liên quan đến việc tăng vốn cho các NHTM Nhà nước về cả mặt pháp lý và thực tiễn triển khai. Để nâng cao năng lực tài chính cho các NHTMNN, vấn đề cơ bản đặt ra là phải tăng vốn cho các ngân hàng này thông qua một số hình thức như: bán cổ phần cho nhà đầu tư (trong nước, ngoài nước) và sử dụng lợi nhuận giữ lại để tăng vốn.

Tuy nhiên, hiện nay các NHTMNN chưa được sử dụng lợi nhuận giữ lại để tăng vốn, trong khi đó, tăng vốn theo hình thức bán cổ phần bị hạn chế bởi quy định về tỷ lệ nắm giữ cổ phần tối thiểu của Nhà nước. Việc tăng vốn điều lệ để cải thiện, nâng cao năng lực tài chính, đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn theo chuẩn mực Basel II là một trong những giải pháp quan trọng nhằm cơ cấu lại NHTM Nhà nước đề ra tại Quyết định 1058; trong đó yêu cầu đặt ra là giữ vững nguyên tắc bảo đảm vai trò chi phối của Nhà nước tại các NHTMNN (đối với các NHTM do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ thì Nhà nước nắm giữ ở mức tối thiểu 65% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết; riêng đối với Agribank thì triển khai các bước để thực hiện cổ phần hóa vào thời điểm thích hợp và bảo đảm Nhà nước nắm giữ tối thiểu 65% vốn điều lệ).

Thứ ba là việc một số bộ, ngành chậm hoặc chưa thực hiện xong việc ban hành chương trình/kế hoạch hành động cụ thể triển khai Đề án 1058; bên cạnh đó, mặc dù về cơ bản, quá trình triển khai Nghị quyết số 42/2017/QH14 đã nhận được sự hỗ trợ của cấp ủy, chính quyền địa phương, tuy nhiên tại một số nơi Cơ quan công an, UBND tỉnh, thành phố chưa có hướng dẫn cụ thể (tới UBND, cơ quan công an cấp huyện, xã) nên còn vướng trong công tác phối hợp xử lý.

Giải pháp thời gian tới

Xác định những khó khăn, thách thức cần đối mặt để tiến tới hoàn thành công tác tái cơ cấu và xử lý nợ xấu đề ra tại Quyết định 1058 và Nghị quyết 42 theo đúng mục tiêu, lộ trình và kế hoạch, trong thời gian tới, NHNN tiếp tục triển khai một số giải pháp như sau:

(1) hoàn thành việc thẩm định, phê duyệt/chấp thuận chủ trương và theo dõi, giám sát việc thực hiện phương án cơ cấu lại gắn với xử lý nợ xấu của các TCTD;

(2) tiếp tục hoàn thiện, trình cấp có thẩm quyền xem xét, phê duyệt và triển khai thực hiện phương án xử lý TCTD yếu kém, đặc biệt là 3 NHTM mua lại và các QTDND yếu kém; tiếp tục theo dõi, giám sát chặt chẽ hoạt động của các TCTD yếu kém để kịp thời xử lý;

(3) tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu lại các NHTM Nhà nước; triển khai phương án nâng cao năng lực tài chính của các NHTM Nhà nước sau khi được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt;

(4) tăng cường củng cố, chấn chỉnh hệ thống QTDND; kiên quyết xử lý các QTDND yếu kém, không có khả năng phục hồi;

(5) hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, cơ chế, chính sách về tiền tệ và hoạt động ngân hàng;

(6) kiên quyết xử lý dứt điểm vấn đề sở hữu chéo, vi phạm giới hạn về sở hữu cổ phiếu dẫn tới chi phối ngân hàng của cổ đông hoặc nhóm cổ đông lớn, lợi ích nhóm trong các TCTD cổ phần theo lộ trình thích hợp;

(7) triển khai các giải pháp mua, bán, xử lý nợ xấu theo cơ chế thị trường, đồng thời áp dụng các biện pháp kiểm soát rủi ro trong việc mua bán nợ theo cơ chế thị trường; (8) chỉ đạo TCTD tổ chức triển khai áp dụng toàn diện các biện pháp quy định tại Nghị quyết số 42; rà soát, tiết giảm các chi phí hoạt động và tập trung mọi nguồn lực cho việc xử lý nợ xấu; thực hiện có hiệu quả các giải pháp để ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật làm phát sinh nợ xấu tại từng TCTD.

Ông Lê Mạnh Hùng, Cục trưởng Cục Công nghệ Thông tin, NHNN: “Việt Nam là quốc gia có tỉ lệ mất an toàn qua thanh toán thuộc loại thấp”

Ông Lê Mạnh Hùng, Cục trưởng Cục Công nghệ Thông tin, Ngân hàng Nhà nước (NHNN)

Tại diễn đàn, ông Lê Mạnh Hùng - Cục trưởng Cục Công nghệ Thông tin, cho hay thanh toán trực tuyến là nhu cầu tất yếu của xã hội hiện đại, giúp mang lại những giá trị to lớn qua việc xóa bỏ những giới hạn về không gian và thời gian, rút ngắn thời gian giao dịch, tăng vòng quay của dòng vốn, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Bên cạnh những lợi ích, thanh toán trực tuyến cũng đang đối mặt với những thách thức to lớn từ các gian lận và tội phạm công nghệ cao có tính tổ chức, xuyên biên giới. Trong đó mục tiêu của tội phạm không chỉ đơn thuần vì lợi ích kinh tế, mà còn có cả yếu tố phá hoại, mang động cơ chính trị, thậm chí được một số tổ chức, quốc gia hậu thuẫn để phá hoại cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội của quốc gia có xung đột, mâu thuẫn về lợi ích. Do đó, việc đảm bảo an toàn, bảo mật trong thanh toán trực tuyến không còn là trách nhiệm của riêng cơ quan, tổ chức, cá nhân nào mà là của toàn xã hội.

Thách thức

Trong năm 2017, theo thống kê của công ty an ninh mạng Panda Security, tài chính là mục tiêu lớn nhất thúc đẩy tin tặc hành động, với 73% số lượng các cuộc tấn công mạng; chính trị, tình báo là mục tiêu lớn thứ hai, với 21% các cuộc tấn công. Mỗi ngày trung bình có khoảng 285.000 mẫu mã độc mới xuất hiện. Đầu tháng 5/2017, mã độc tống tiền WannaCry khiến thế giới "chao đảo" khi lan rộng tới hơn 150 quốc gia trong đó có Việt Nam, ảnh hưởng tới 10.000 tổ chức, 200.000 cá nhân. Nó được xem là một trong những cuộc tấn công mã độc thuộc hàng lớn nhất trong lịch sử. Các số liệu trên cho thấy sự phức tạp, khó khăn của công tác an ninh, bảo mật trong giai đoạn hiện nay.

Đối với ngành ngân hàng, tài chính, thời gian qua trên khắp thế giới cũng đã xảy ra nhiều sự kiện mất an toàn, một số vụ điển hình như NHTW (Ngân hàng Trung ương) Bangladesh bị mất 81 triệu đô la Mỹ qua hệ thống thanh toán quốc tế SWIFT vào tháng 2/2016, NHTW Ecuador bị tấn công tương tự mất 9 triệu đô la, một ngân hàng Nam Phi mất 13 triệu đô la qua ATM vào tháng 5/2016; ngân hàng tại Đài Loan bị đánh cắp 2,2 triệu đô la qua ATM vào tháng 7/2016; một ngân hàng Thái Lan mất khoảng 350 ngàn đô la do máy ATM bị cài mã độc vào tháng 8/2016; tháng 11/2016, Ngân hàng Tesco Bank đã phải tạm ngưng các giao dịch ngân hàng trực tuyến sau khi bị tội phạm mạng ăn cắp tiền từ 20.000 tài khoản khách hàng.

Tại Việt Nam, nhận thức và hành vi của người dùng trong việc đảm bảo an toàn thông tin khi truy cập mạng thì người dùng Việt Nam vẫn còn rất yếu; 60% người dùng trên thế giới khi được hỏi thì đều có nhận thức việc mất an toàn là do bản thân, nhưng tại Việt Nam chỉ có gần 11% người dùng nhận biết được điều này.

Đối với ngành ngân hàng Việt Nam, theo thống kê của các tổ chức thanh toán quốc tế như Visa-Mastercard, năm 2017 Việt Nam là quốc gia có tỉ lệ mất an toàn qua thanh toán thuộc loại thấp, chỉ khoảng 1/3 so với tỉ lệ bình quân trên thế giới.

Mất an toàn thuộc loại thấp

Việt Nam trong thời gian qua đã ban hành nhiều chính sách, tiêu chuẩn về an toàn thông tin, bao gồm từ Luật (Luật Giao dịch điện tử, Luật An toàn thông tin mạng và sắp tới là Luật An ninh mạng), Nghị định (Nghị định 35/2007/NĐ-CP về giao dịch điện tử trong hoạt động ngân hàng; Nghị định số 85/2016/NĐ-CP về bảo đảm an toàn hệ thống thông tin theo cấp độ) đến các Thông tư hướng dẫn.

NHNN với vai trò quản lý nhà nước trong ngành ngân hàng luôn quan tâm và chỉ đạo sát sao công tác bảo đảm an ninh, an toàn hệ thống thông tin trong toàn ngành. Trên cơ sở các quy định của Nhà nước, NHNN đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật về đảm bảo an toàn hoạt động CNTT trong ngành tiệm cận với các chuẩn mực quốc tế về an toàn thông tin như ISO 27001, PCI DSS… Bên cạnh đó, NHNN còn là đầu mối thường xuyên tiếp nhận các cảnh báo về lỗ hổng bảo mật, nguy cơ mất an toàn của hệ thống CNTT từ Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Thông tin và Truyền thông và các tập đoàn, công ty CNTT đối tác, để cảnh báo, chỉ đạo các đơn vị trong toàn ngành kiểm tra, rà soát và có giải pháp kịp thời phòng, tránh, không để xảy ra các hiện tượng mất an toàn.

Đi đôi với việc ban hành các văn bản, hàng năm ngoài việc tổng hợp giám sát qua hệ thống báo cáo, NHNN đều tổ chức các đoàn kiểm tra tại chỗ để phát hiện, khuyến nghị và chấn chỉnh kịp thời những tồn tại, hạn chế về an ninh, bảo mật của các tổ chức tín dụng, các tổ chức trung gian thanh toán.

Từ năm 2010 đến nay, NHNN đã tiến hành 75 đợt kiểm tra tuân thủ các văn bản quy phạm pháp luật về CNTT tại 61 tổ chức tín dụng.

Nhằm tập hợp lực lượng và thống nhất chỉ đạo về hoạt động an ninh, bảo mật trong toàn ngành ngân hàng, ngày 27/5/2016 Thống đốc NHNN đã ký Quyết định số 1126/QĐ-NHNN ban hành Quy chế về điều phối mạng lưới ứng cứu sự cố an ninh công nghệ thông tin trong ngành Ngân hàng.

Theo đó Ngân hàng Nhà nước (Cục CNTT) với vai trò là tổ chức điều phối mạng lưới, thực hiện chức năng tiếp nhận, xử lý và điều phối các thông tin, hoạt động ứng cứu sự cố an ninh CNTT trong toàn ngành và định kỳ hàng năm tổ chức các đợt diễn tập ứng cứu sự cố an ninh CNTT nhằm nâng cao khả năng ứng phó, sẵn sàng xử lý các sự cố an ninh mạng cho các đơn vị trong ngành Ngân hàng.

Triển khai các văn bản chỉ đạo của NHNN, các tổ chức tín dụng trong toàn ngành đã quan tâm đầu tư, đổi mới công nghệ, từng bước hoàn chỉnh hạ tầng CNTT.

- Tại trung tâm dữ liệu chính và trung tâm dữ liệu dự phòng và các hệ thống quan trọng, các tổ chức tín dụng đã đầu tư, trang bị các giải pháp an ninh bảo mật cơ bản như: tường lửa (firewall); hệ thống phát hiện xâm nhập (IPS/IDS); hệ thống phòng chống vi rút; xác thực đa thành tố đối với các giao dịch điện tử và mã hóa dữ liệu đối với các hệ thống quan trọng. Hệ thống ứng dụng, máy chủ, máy trạm được quản lý, thường xuyên rà soát, cập nhật kịp thời các bản vá lỗ hổng để ngăn ngừa tội phạm xâm nhập tấn công vào hệ thống.

- Cơ bản các tổ chức tín dụng đã trang bị các giải pháp tăng cường an toàn, an ninh mạng như: hệ thống quản lý sự kiện an ninh; hệ thống phòng chống thư rác; hệ thống lọc nội dung web; hệ thống quản lý file nhật ký; hệ thống đánh giá điểm yếu ứng dụng và mạng; công nghệ chữ ký số PKI.

- Bên cạnh đó, nhiều tổ chức tín dụng đã triển khai áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế về an ninh bảo mật như ISO 27001, PCI DSS. Số lượng các tổ chức tín dụng đạt các tiêu chuẩn này đã tăng lên hàng năm. Đối với chuẩn PCI DSS, trên 60% các tổ chức tín dụng đã và đang triển khai áp dụng tiêu chuẩn an ninh dữ liệu thẻ PCI DSS, trong đó có 10 đơn vị đạt chứng chỉ PCI DSS; đối với chuẩn ISO 27001, trên 64% các tổ chức tín dụng đã và đang triển khai áp dụng, trong đó có 10 tổ chức đã lấy chứng chỉ đạt tiêu chuẩn ISO 27001.

- Trong năm 2017, các tổ chức tín dụng cũng đã tích cực triển khai chương trình CSP SWIFT để tăng cường đảm bảo an toàn cho hoạt động chuyển tiền quốc tế qua hệ thống SWIFT.

Để nâng cao nhận thức cho khách hàng trong việc đảm bảo an toàn bảo mật các giao dịch trực tuyến, các tổ chức tín dụng đã tăng cường công tác truyền thông đến khách hàng về các thủ đoạn của tội phạm mạng và các biện pháp bảo vệ thông tin cá nhân trong việc sử dụng các dịch vụ ngân hàng điện tử và thanh toán thẻ.

Bảo mật cho thanh toán trực tuyến trong thời gian tới

- Đối với NHNN: nghiên cứu, áp dụng các tiêu chuẩn, thông lệ quốc tế trong các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động ứng dụng CNTT của các tổ chức tín dụng đảm bảo an toàn, bảo mật. Cụ thể trong năm 2018, NHNN sẽ rà soát sửa đổi bổ sung Thông tư quy định về đảm bảo an toàn, bảo mật hệ thống CNTT trong hoạt động ngân hàng (Thông tư số 31/2015/TT-NHNN) và Thông tư quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ ngân hàng trên Internet (Thông tư số 35/2016/TT-NHNN) với các nội dung dự kiến:

(i) quy định việc quản lý dịch vụ thuê ngoài, đặc biệt là dịch vụ điện toán đám mây;

(ii) quy định về các giải pháp an ninh bảo mật phù hợp cho từng loại đối tượng khách hàng;

(iii) quy định về phân loại hệ thống thông tin theo cấp độ vào áp dụng các giải pháp đảm bảo an ninh bảo mật tương ứng;...

Đưa vào áp dụng khung đánh giá rủi ro CNTT theo thông lệ quốc tế để nâng cao chất lượng công tác kiểm tra tuân thủ các quy định về an toàn bảo mật tại các tổ chức tín dụng, tổ chức trung gian thanh toán.

Tiếp tục đẩy mạnh hoạt động của mạng lưới ứng cứu sự cố an ninh CNTT ngành ngân hàng với các trọng tâm sau: từng bước kiện toàn nguồn nhân lực cùng với cơ sở vật chất phục vụ diễn tập, giám sát sự kiện an ninh mạng; bổ sung kinh phí, trang thiết bị, giải pháp công nghệ hỗ trợ cho hoạt động của mạng lưới nhằm nâng cao năng lực xử lý và ứng cứu sự cố; đào tạo chuyên sâu về an ninh thông tin trong ngành ngân hàng theo hình thức phối hợp giữa các tổ chức tín dụng và NHNN triển khai các khóa đào tạo theo yêu cầu; hàng năm hoặc 6 tháng 1 lần, tổ chức các khoá đào tạo về an ninh mạng kết hợp với diễn tập ứng cứu sự cố; xây dựng diễn đàn trao đổi thông tin riêng cho các thành viên mạng lưới; định kỳ tổ chức các buổi hội thảo về an toàn, an ninh thông tin và ứng cứu sự cố an ninh mạng.

Phối hợp với các cơ quan chức năng Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Công an, Ban Cơ yếu Chính phủ và các tổ chức cung cấp dịch vụ hạ tầng CNTT... để chia sẻ thông tin và hỗ trợ hoạt động đảm bảo an toàn, an ninh mạng của ngành ngân hàng.

Triển khai các chương trình nâng cao nhận thức của cán bộ, nhân viên trong ngành Ngân hàng và người dân trong việc nhận diện các rủi ro và các các biện pháp phòng ngừa của hoạt động ngân hàng trên môi trường mạng.

- Đối với các tổ chức tín dụng:

Rà soát, hoàn thiện và tổ chức triển khai chính sách về an ninh bảo mật CNTT, chính sách về quản lý rủi ro CNTT tuân thủ các văn bản pháp luật của Nhà nước và các quy định của NHNN.

Xây dựng kế hoạch ứng dụng CNTT, trong đó chú trọng triển khai các chương trình, kế hoạch theo quy định của NHNN như:

(i) áp dụng các giải pháp về an toàn bảo mật trong thanh toán trực tuyến và thanh toán thẻ ngân hàng đã được thống đốc NHNN ban hành tại Quyết định 630/QĐ-NHNN ngày 31/3/2017, áp dụng các công nghệ xác thực mạnh, phòng chống tấn công lừa đảo (phishing) để cung cấp cho khách hàng sử dụng dịch vụ an toàn;

(ii) kế hoạch chuyển đổi thẻ từ sang thẻ chíp.

Xây dựng lộ trình triển khai áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế về an ninh bảo mật cho hệ thống CNTT cũng như các dịch vụ thanh toán trực tuyến, thanh toán thẻ (ISO 27001, PCI/DSS).

Rà soát chặt chẽ các quy trình đăng ký, kích hoạt sử dụng dịch vụ ngân hàng điện tử đảm bảo cung cấp dịch vụ cho đúng khách hàng.

Các giải pháp về công nghệ:

- Triển khai các nội dung về rà soát, đánh giá rủi ro và triển khai các giải pháp an ninh bảo mật cho toàn bộ vòng đời của một hệ thống thông tin.

- Trang bị các hệ thống hỗ trợ giám sát giao dịch điện tử, điều tra gian lận, từng bước tổng hợp, phân tích dữ liệu của khách hàng và xây dựng bộ quy tắc để phát hiện và ngăn chặn sớm các gian lận; xây dựng các tiêu chí và phần mềm để xác định các giao dịch bất thường dựa vào thời gian, vị trí địa lý, tần suất giao dịch, số tiền giao dịch, số lần đăng nhập sai quá quy định hoặc các dấu hiệu bất thường khác.

- Xây dựng trung tâm điều hành an ninh mạng để theo dõi, giám sát và ngăn chặn kịp thời các hành vi xâm nhập, tấn công mạng.

- Thường xuyên định kỳ đánh giá các điểm yếu, lỗ hổng của hệ thống CNTT. Xây dựng và triển khai diễn tập các quy trình, kịch bản ứng phó với các sự cố an toàn thông tin mạng.
Các giải pháp về tổ chức, nguồn nhân lực.

- Kiện toàn bộ máy CNTT các cấp theo hướng chuyên môn hoá, làm chủ công nghệ, hạn chế sự phụ thuộc vào các đối tác bên ngoài. Xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên trách về an toàn thông tin.

- Đào tạo, huấn luyện nâng cao kỹ năng xử lý rủi ro cho nhân viên một cách chặt chẽ, khoa học và chuyên nghiệp.

- Tăng cường công tác kiểm toán nội bộ đảm bảo an toàn các hoạt động nghiệp vụ và hạ tầng CNTT.

- Tăng cường công tác truyền thông đến khách hàng về các thủ đoạn của tội phạm mạng và các biện pháp bảo vệ thông tin cá nhân trong việc sử dụng các dịch vụ ngân hàng điện tử và thanh toán thẻ.

Các phiên tọa đàm tòa soạn lược ghi thành các bài viết riêng, bạn đọc có thể xem theo các đường dẫn sau:

Tọa đàm phiên 1: Tổng quan về chính sách tiền tệ

Phiên 2: Trao đổi về tái cơ cấu và xử lý nợ xấu

Giải pháp nâng cao an toàn thanh toán trong hệ thống ngân hàng

 

Chia sẻ:
   
CÙNG CHUYÊN MỤC
Giấy phép Báo điện tử số: 2302/GP-BTTTT, cấp ngày 29/11/2012