Thêm lý do để thận trọng với dự án Cái Lớn - Cái Bé
Thứ Hai,  11/6/2018, 17:36 

Thêm lý do để thận trọng với dự án Cái Lớn - Cái Bé

Nguyễn Hữu Thiện

(TBKTSG) - LTS: TBKTSG số ra ngày 31-5-2018 đăng bài Cần thận trọng với dự án Cái Lớn - Cái Bé, trong đó tác giả Dương Văn Ni bàn về chủ trương đầu tư dự án Hệ thống thủy lợi Cái Lớn - Cái Bé của Chính phủ. Sau khi bài viết này được đăng tải, tòa soạn TBKTSG nhận được bài viết của tác giả Nguyễn Hữu Thiện, nêu thêm những lý do phải thận trọng với dự án này, xin giới thiệu bạn đọc.

Chuyên gia: Không cần thiết phải xây dựng dự án thủy lợi Cái Lớn - Cái Bé

Cho rằng ĐBSCL phải gánh trọng trách an ninh lương thực, suy ra phải ngăn mặn để duy trì sản lượng lúa là thiếu thuyết phục. Ảnh: LÊ HOÀNG VŨ

Dự án đắt đỏ, không cần thiết, không cấp bách

Dự án thủy lợi Sông Cái Lớn-Sông Cái Bé (SCL-SCB) là một dự án đắt đỏ (lên đến 3.300 tỉ đồng cho giai đoạn 1 và 3.500 tỉ đồng cho giai đoạn 2), ảnh hưởng đến một vùng rộng lớn tới một phần tư đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) nhưng những biện luận về sự cần thiết và cấp bách của dự án không thuyết phục.

Những luận điểm cho rằng công trình này cần thiết và cấp bách gồm: tình hình hạn - mặn mùa khô 2016, nguy cơ nước biển dâng, ĐBSCL phải gánh trọng trách bảo đảm an ninh lương thực, nguy cơ cạn kiệt nguồn nước ngọt ĐBSCL do tác động từ các nước thượng nguồn.

Tất cả lý do này đều thiếu thuyết phục.

Thứ nhất, sự kiện cực đoan gây hạn - mặn như mùa khô 2016 không nên bị lạm dụng làm chuẩn tình hình chung để xây dựng công trình. Một khi hạn - mặn cực đoan xảy ra như 2016 thì công trình ngăn mặn cũng sẽ không có tác dụng.

Thứ hai, không hiểu vì sao mực nước biển dâng của kịch bản năm 2009 vẫn còn được sử dụng thay vì kịch bản mới - năm 2016 - của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Thực tế, nước biển dâng chỉ khoảng 3 mi li mét/năm. Chuyện đồng bằng bị sụt lún nhanh do khai thác nước ngầm quá mức, một phần do sông ngòi không còn chảy, tích tụ ô nhiễm, không sử dụng được như xưa, mới là điều đáng lo.

Thứ ba, cho rằng ĐBSCL phải gánh trọng trách an ninh lương thực, suy ra phải ngăn mặn để duy trì sản lượng lúa là thiếu thuyết phục. Hàng năm ĐBSCL sản xuất trung bình 25 triệu tấn lúa, xuất khẩu hơn 50%, giá trị thấp, khó có thể nói ta cần đến 25 triệu tấn để đảm bảo an ninh lương thực. Năm 2016, hạn - mặn cực đoan như thế mà ĐBSCL vẫn xuất khẩu 4,88 triệu tấn gạo, an ninh lương thực quốc gia chưa hề bị đe dọa nếu ta không tự gánh vai trò an ninh lương thực cho thế giới. Nghị quyết 120 của Chính phủ đã chỉ rõ phải thay đổi tư duy từ tăng gia sản xuất, tập trung sản lượng sang làm kinh tế nông nghiệp, chú trọng chất lượng hơn số lượng, thay đổi trật tự ưu tiên từ lúa, cây trồng khác, thủy sản sang thủy sản, cây trồng khác, rồi mới tới lúa và xem nước mặn, nước lợ, nước ngọt đều là tài nguyên.

Thứ tư, cho rằng nguồn nước ngọt chảy vào ĐBSCL sẽ bị cạn kiệt do tác động từ các nước thượng nguồn là tuyên bố võ đoán. Đối với thủy điện, vấn đề chính là phù sa và thủy sản, không phải về lượng nước. Về số lượng nước, tóm tắt nhanh thì trong những năm lũ cao, thủy điện gây lũ chồng lũ; những năm khô hạn, thủy điện làm hạn - mặn trầm trọng hơn; còn trong những năm bình thường, tức là trong đa số các năm, thủy điện tác động rất ít đối với lượng nước. Khả năng chuyển nước sông Mêkông sang tưới vùng Đông Bắc Thái Lan là khó thực hiện được vì bên dưới vùng này có đĩa muối mỏ rất lớn.

Đánh giá tác động môi trường lạc hướng

Báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) của dự án SCL-SCB cho rằng khi đi vào vận hành, các cửa cống chỉ đóng trong mùa khô (từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau), mỗi tháng đóng cửa cống vài ngày, mỗi ngày đóng vài giờ để kiểm soát mặn (hoặc giữ nước ngọt) tùy theo triều biển Tây và các cửa cống đóng mở luân phiên. Tất cả thời gian còn lại cửa cống luôn mở để nước lưu thông qua lại cũng như cho hoạt động giao thông thủy thuận lợi, do đó ô nhiễm môi trường trong giai đoạn vận hành rất ít.

Với mục tiêu cốt lõi của dự án đặt ra là tăng cường cung cấp nước ngọt cho bán đảo Cà Mau, tuyên bố này rất khó thuyết phục. Sự tương tác phức tạp thủy triều biển Đông, biển Tây, và sông Hậu rất phức tạp đối với vùng này, việc vận hành cống để đạt mục tiêu tuyên bố là không hề đơn giản.

Nếu theo nguyên tắc thuận thiên trong Nghị quyết 120 của Chính phủ, trong những năm mưa nhiều thì chuyện ngăn mặn bằng công trình là không cần thiết, trong những năm bình thường thì mặn - ngọt là điều kiện tự nhiên của đồng bằng, chỉ nên thích nghi, chuyển đổi hơn là can thiệp, còn trong những năm mưa ít hoặc cực đoan như mùa khô 2016, bán đảo Cà Mau thiếu nước ngọt thì toàn lưu vực sông Mêkông từ cao nguyên Tây Tạng xuống ĐBSCL cũng đều ít nước, công trình SCL-SCB cũng không tác dụng, đặc biệt là nếu vận hành như tuyên bố là chỉ đóng vài ngày trong tháng trong mùa khô, mỗi ngày chỉ vài giờ. Lịch vận hành hiện đang bị làm đơn giản hóa để tác động có vẻ nhỏ, nhưng một khi công trình đã xây dựng xong, không có gì đảm bảo là lịch này sẽ được tuân thủ và có hiệu quả.

Với mục đích ngăn mặn từ biển Tây, tích ngọt bên trong, dự án này sẽ làm cho sông ngòi bên trong nước lớn không còn lớn, nước ròng không còn ròng, dòng chảy sẽ mất động lực, thủy văn sông ngòi thay đổi, kéo theo sinh thái thay đổi. Khi ảnh hưởng triều, nước lớn nước ròng của sông rạch đồng bằng không còn thì thủy sản sông ngòi khó tồn tại. Điều này ảnh hưởng đối với sinh kế, dinh dưỡng của người dân và toàn bộ hệ sinh thái, nhất là các loài ăn cá như chim, cò, rùa, rắn, nhưng chưa thấy đề cập.

Vùng nước lợ, do sự cân bằng tự nhiên giữa sông và biển, là vùng đa dạng sinh học nhất về thủy sản, có nhiều cơ hội kinh tế cho người dân nuôi trồng thủy sản sẽ bị lọt vào bên trong cống, có thể bị xóa sổ.

Khi đóng cống, dù là vài ngày, sự liên lạc sinh thái giữa biển và nội địa bị cắt đứt, chưa thấy phân tích mùa nào có loài cá nào cần phải vào - ra, sinh sản giữa biển và sông ngòi.

Khi sông ngòi bị yếu đi, đặc biệt là ở những vùng xa bên trong, ô nhiễm sẽ tích tụ trầm trọng, không tiêu thoát, không oxy hóa được, nước mặt bị hủy hoại, gia tăng sử dụng nước ngầm thì đồng bằng sẽ bị sụt lún, chìm nhanh hơn.

Khi xả nước tích tụ ô nhiễm từ sông ngòi ra biển, hệ sinh thái biển, thủy sản nuôi trồng của người dân sẽ nguy cấp. Điều này ngược với tinh thần của Nghị quyết 120 về quy hoạch phát triển ĐBSCL có tính đến hợp phần biển.

Một chuyện tưởng nhỏ nhưng trở thành vấn nạn lớn của kênh rạch đồng bằng là sự xâm lấn của lục bình. Khi dòng chảy bị yếu, sông rạch, nhất là các sông rạch nhánh, sẽ bị lục bình phát triển dày đặc. Sông ngòi sẽ không còn sử dụng được cho vận chuyển đi lại, bơi lội, hay cho sinh hoạt. Toàn bộ hệ thủy sinh sẽ bị hủy hoại. Sông ngòi bị yếu, lục bình dày đặc, nước ô nhiễm sẽ là điều kiện lý tưởng cho sự bùng phát muỗi, dịch bệnh trên diện rộng.

Cần cân nhắc cẩn trọng, chưa nên làm ngay 

Với tình hình ngân sách khó khăn, diễn biến hạn - mặn từ sau 2016 là khá bình thường, công trình SCL-SCB không khẩn cấp đến nỗi phải đi vay một khoản tiền lớn để thực hiện trước, dẫn đến phá vỡ Quy hoạch tổng thể ĐBSCL do Bộ Kế hoạch và Đầu tư đang chủ trì soạn thảo và chiến lược nông nghiệp mới cho ĐBSCL do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn soạn thảo theo tinh thần Nghị quyết 120 của Chính phủ.

Số tiền lớn này tốt nhất nên được sử dụng để giúp người dân ở vùng mặn - ngọt chuyển đổi giảm lúa sang thủy sản mặn, thủy sản - lúa luân phiên, nông nghiệp sạch, để vươn tới thị trường cao cấp hơn, mới giúp người dân thoát nghèo và bảo vệ nguồn nước ĐBSCL.

TIN BÀI LIÊN QUAN
Chia sẻ:
   
CÙNG CHUYÊN MỤC
Giấy phép Báo điện tử số: 2302/GP-BTTTT, cấp ngày 29/11/2012