Thuốc an thần hay đặc trị?
Thứ Tư,  1/8/2018, 07:11 

Thuốc an thần hay đặc trị?

Bích Thuận - Văn Thịnh

(TBKTSG) - Hàng năm, cứ đến kỳ họp của Hội đồng Tiền lương quốc gia về việc tăng lương tối thiểu vùng là lại có những cuộc tranh luận nảy lửa giữa người lao động và người sử dụng lao động mà đại diện là Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam (LĐLĐ) và Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI). Năm nay, VCCI đề nghị không tăng lương tối thiểu vùng trong khi LĐLĐ muốn có con số 8%. Sự chênh lệch này khiến người viết liên tưởng tới một cuộc ngã giá ở chợ khi mà người mua, kẻ bán “cò kè bớt một thêm hai” hơn là một cuộc đàm phán ở tầm quốc gia liên quan tới miếng cơm, manh áo của hàng chục triệu con người.

Gánh nặng lương tối thiểu khiến doanh nghiệp mệt

Trong bài viết này, chúng tôi sẽ phân tích những mặt lợi hại của việc tăng lương tối thiểu và gợi mở một số khuyến nghị, giải pháp.

Cách tính lương tối thiểu tại Việt Nam

Khi chỉ tranh cãi với nhau về mức lương, chúng ta sẽ dễ quên rằng cuộc sống của người lao động còn chịu ảnh hưởng bởi rất nhiều thứ khác. Trong ảnh: Công nhân một doanh nghiệp giày da ở Bình Dương trong giờ sinh hoạt ngoài trời. Ảnh: UYÊN VIỄN

Theo điều 91, Luật Lao động năm 2012, lương tối thiểu được xác lập dựa vào nhu cầu sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ, điều kiện kinh tế - xã hội và mức tiền lương trên thị trường lao động. Chính phủ công bố mức lương tối thiểu vùng trên cơ sở khuyến nghị của Hội đồng Tiền lương quốc gia. Ngoài lương tối thiểu vùng còn có lương tối thiểu ngành được xác định thông qua thương lượng tập thể ngành, được ghi trong thỏa ước lao động tập thể ngành nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ công bố.

Singapore không quy định mức lương tối thiểu nhưng chính phủ, công đoàn và người sử dụng lao động lại xây dựng mô hình lương lũy tiến hay còn gọi là mô hình xác định lộ trình tăng lương dựa trên năng suất lao động.

Trên thực tế, tiền lương tối thiểu được đề xuất bởi các thành viên của tổ kỹ thuật trực thuộc Hội đồng Tiền lương quốc gia, dựa trên nhiều yếu tố, chẳng hạn như chỉ số giá tiêu dùng (CPI), tăng trưởng GDP, mức sống tối thiểu của lao động, năng suất lao động, tỷ lệ thất nghiệp, số lượng doanh nghiệp giải thể... Lương tối thiểu lần đầu được áp dụng vào năm 2006, ban đầu có sự khác biệt giữa bốn vùng kinh tế và các thành phần kinh tế. Nhưng đến năm 2011, sự khác biệt về lương tối thiểu giữa các thành phần kinh tế bị xóa bỏ để đảm bảo môi trường kinh doanh bình đẳng. Ngoài ra, theo quy định, lương tối thiểu có thể tính theo giờ nhưng trên thực tế nó chỉ được tính theo tháng.

Trong giai đoạn 2008-2016, lương tối thiểu tại Việt Nam tăng với tốc độ khá nhanh, tăng gấp 4,4 lần ở vùng IV và 5,64 lần ở vùng I. Tốc độ tăng trung bình hàng năm khoảng từ 20,4% (vùng IV) đến 24,1% (vùng I) và vượt xa tốc độ tăng trưởng hàng năm của GDP và CPI. Theo nghiên cứu của Viện Nghiên cứu kinh tế và Chính sách (VEPR) trong năm 2018, tốc độ tăng lương tối thiểu của Việt Nam trong giai đoạn này cao hơn tốc độ tăng năng suất lao động, trong khi Thái Lan, Trung Quốc, Indonesia thì lương tối thiểu tăng chậm hơn tốc độ tăng năng suất lao động. Nhìn chung, lương tăng nhanh hơn năng suất lao động, GDP và CPI là có lợi cho người lao động nhưng có thể ảnh hưởng xấu tới sự phát triển bền vững của hệ thống doanh nghiệp.

Tuy tốc độ tăng lương tối thiểu khá nhanh trong giai đoạn gần đây song lương tối thiểu của Việt Nam cũng chỉ ở mức trung bình thấp so với các nước trong khu vực. Biểu đồ dưới đây cho thấy, năm 2017, lương tối thiểu của Việt Nam cao hơn so với Campuchia, Lào, Myanmar và đứng sau Thái Lan, Malaysia, Philippines, Indonesia. Tuy nhiên nếu lương tối thiểu tiếp tục gia tăng với tốc độ hai chữ số, thì Việt Nam sẽ sớm đánh mất lợi thế chi phí lao động rẻ vào tay Philippines.

Điểm cộng và điểm trừ của lương tối thiểu

Trong một xã hội văn minh, con người không những cần được đảm bảo quyền tự do lao động mà còn phải được bảo vệ nhân phẩm. Lương tối thiểu chính là một biện pháp bảo vệ nhân phẩm người lao động khi ngăn ngừa các chủ lao động bóc lột họ với đồng lương chết đói. Lương tối thiểu đã ra đời với mục đích đó từ những năm 1890 tại New Zealand, Úc và sớm trở thành một phong trào lan tỏa rộng khắp. Đến cuối thế kỷ 20, hơn 90% các quốc gia đều chính thức hóa lương tối thiểu(1).

Ngoài tác dụng trên, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra những tác dụng hữu ích khác của lương tối thiểu: (i) Lương tối thiểu có thể thúc đẩy người lao động chuyển đổi từ khu vực phi chính thức sang khu vực chính thức để hưởng lương cao với điều kiện lao động tốt hơn; (ii) Lương tối thiểu gia tăng thu nhập khả dụng cho người lao động, thúc đẩy chi tiêu và việc làm trong nền kinh tế; (ii) Thêm vào đó, nó còn có tác động lan tỏa, gián tiếp giúp tăng lương cho cả những người lao động có lương cao hơn mức lương tối thiểu.

Tuy có những tác dụng to lớn nhưng chính sách lương tối thiểu lại là một trong những chính sách gây tranh cãi bậc nhất vì có nhiều điểm bất cập. Tại Việt Nam, thiết kế hiện tại về lương tối thiểu có các điểm trừ sau:

Thứ nhất, lương tối thiểu không bảo vệ được nhóm yếu thế vì nó loại trừ các nhóm như lao động khu vực phi chính thức, lao động bán thời gian. Lương tối thiểu hiện chỉ áp dụng đối với người lao động có hợp đồng mà chưa chú trọng tới hơn 50% lao động làm việc tại khu vực hộ gia đình, lao động tự do.

Thứ hai, lương tối thiểu cũng không thực sự công bằng do không khỏa lấp được hoàn toàn sự khác biệt vùng, miền. Mức thu nhập của các quận, trung tâm (thuộc vùng I) có thể cao gấp rất nhiều lần so với các huyện vùng sâu, vùng xa (thuộc vùng IV) nhưng lương tối thiểu giữa hai vùng này không khác biệt nhiều. Lương tối thiểu cũng không đảm bảo được mức sống của người lao động tại những nơi đắt đỏ. Nếu hỏi một lao động trên địa bàn TPHCM và Hà Nội liệu mức lương tối thiểu là 3,98 triệu đồng/tháng có đủ để sống không thì câu trả lời sẽ là không. Một nghiên cứu của hai tổ chức ISEAL Alliance và SAI năm ngoái đã công bố số liệu khảo sát cho thấy 6,4 triệu đồng mới là mức lương đủ để sống tại TPHCM.

Thứ ba, lương tối thiểu có thể làm gia tăng thất nghiệp, giảm lợi nhuận và đầu tư của doanh nghiệp. Về mặt lý thuyết, tăng lương tối thiểu sẽ có tác động tiêu cực tới việc làm của lao động tay nghề thấp. Ngoài ra, chi phí nhân công đắt đỏ hơn có thể khiến các doanh nghiệp thay thế lao động bằng máy móc, qua đó càng cắt giảm việc làm nhiều hơn. Theo nghiên cứu định lượng của VEPR (2018), việc tăng 100% lương tối thiểu sẽ có xu hướng làm tăng lương trung bình 32%, giảm 13% việc làm, giảm lợi nhuận 2,3%. Đáng chú ý là tổn thất việc làm xảy ra ở tất cả các ngành công nghiệp và có khác biệt giữa các khu vực kinh tế.

Thứ tư, lương tối thiểu làm sai lệch sự phân bổ nguồn lực trong xã hội. Khi lương tối thiểu tăng, doanh nghiệp có thể chuyển dịch đầu tư sang những địa phương có mức lương tối thiểu thấp hơn để tránh gia tăng chi phí nhân công. Một hệ lụy tiêu cực khác mới nổi lên gần đây là tình trạng sa thải lao động bước vào tuổi 35 để trốn tránh việc tăng lương, đóng bảo hiểm xã hội cao.

Lương tối thiểu: thuốc an thần hay thuốc đặc trị?

Với tất cả mặt lợi, hại kể trên, có thể thấy rằng lương tối thiểu giống như một liều thuốc an thần giúp xoa dịu đau đớn, bất công trong ngắn hạn. Tuy nhiên, tuyệt đối không nên dùng quá liều loại thuốc này. Vì trong dài hạn, tăng lương tối thiểu không giúp cải thiện được mức sống, thu nhập của lao động và nền kinh tế. Việc tăng lương tối thiểu chỉ giúp được một nhóm lao động, trong một số ngành nghề, khu vực nhưng thường phải đánh đổi bằng việc làm của lao động ở nơi khác cùng với lợi nhuận và sức khỏe của doanh nghiệp.

Tại các quốc gia phát triển, ngày càng có nhiều sáng kiến, giải pháp thị trường để thay thế chính sách lương tối thiểu bắt buộc. Điển hình như Na Uy, Thụy Điển, các nước này không hề có quy định về lương tối thiểu bởi tổ chức công đoàn tại các quốc gia này có đủ sức mạnh để thỏa thuận trực tiếp với người sử dụng lao động. Singapore không quy định mức lương tối thiểu nhưng chính phủ, công đoàn và người sử dụng lao động lại xây dựng mô hình lương lũy tiến hay còn gọi là mô hình xác định lộ trình tăng lương dựa trên năng suất lao động. Tại London (Anh), các tổ chức xã hội còn vận động thúc đẩy các doanh nghiệp áp dụng mức lương sống còn cao hơn lương tối thiểu, qua đó sẽ giúp tăng chất lượng công việc, giảm tỷ lệ vắng mặt và nghỉ việc. Hơn nữa, nó cũng giúp doanh nghiệp nâng cao danh tiếng như một nhà tuyển dụng đạo đức.

Trong bối cảnh Việt Nam, việc duy trì lương tối thiểu vẫn cần thiết do các giải pháp thị trường chưa phát triển. Bên cạnh việc tăng lương tối thiểu có chừng mực, Chính phủ nên đẩy mạnh các giải pháp gia tăng năng suất và tạo điều kiện cho công đoàn, các tổ chức xã hội khác đại diện hữu hiệu cho người lao động bởi đó mới là liều thuốc đặc trị cho các căn bệnh của thị trường lao động. 

(1) ILO 2006: Minimum wages policy, Archived (PDF) from the original on 29 December 2009. Retrieved 1 March 2012.

Nguồn tham khảo:

1. Viện Nghiên cứu kinh tế và Chính sách (VEPR), 2018, “Báo cáo thường niên kinh tế Việt Nam 2018 - Hiểu thị trường lao động để tăng năng suất”, Chương 4: mức độ tăng lương và năng suất lao động tại Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội

2. ILO (Tổ chức Lao động quốc tế) 2006: Minimum wages policy, Archived (PDF) from the original on 29 December 2009. Retrieved 1 March 2012.

3. https://tradingeconomics.com/vietnam/minimum-wages

4. https://www.ceicdata.com/en/indicators

Cái lý của hai bên và nghịch lý của nền kinh tế

Trong cuộc họp Hội đồng Tiền lương quốc gia mới đây để bàn về mức lương tối thiểu vùng cho năm 2019, đại diện người lao động - Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam (LĐLĐ) đề xuất tăng lương tối thiểu vùng 8% còn đại diện người sử dụng lao động - Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) bày tỏ ý kiến không đồng tình.

LĐLĐ dẫn chứng mức tăng trưởng GDP sáu tháng đầu năm (7,08%), chỉ số giá tiêu dùng cả năm (dự kiến 4%) và năng suất lao động (5%) làm cơ sở cho đề xuất của mình nhưng những số liệu này dường như không liên quan trực tiếp lắm. Trong khi đó, theo số liệu từ bảng cân đối liên ngành của Tổng cục Thống kê thì thu nhập từ sản xuất của người lao động chỉ khoảng xấp xỉ 92-94% tiêu dùng cuối cùng của dân cư, đây dường như mới là dẫn chứng chính xác. Chú ý rằng trong 92-94% thu nhập từ sản xuất của người lao động còn có phần phải đóng bảo hiểm xã hội và kinh phí công đoàn. Còn theo nguồn số liệu khác của Tổng cục Thống kê, về tỷ lệ tiền lương, tiền công so với chi phí cho đời sống, thì tỷ lệ này năm 2014 chỉ là 71% và năm 2016 là 72%. Những số liệu này cho thấy đề xuất của LĐLĐ, về việc phải tăng lương tối thiểu vùng, là phù hợp.

Nhưng nhìn từ phía ngược lại - VCCI - thì lại thấy ngược lại. Hệ số co giãn của lao động của toàn nền kinh tế trong giai đoạn 2012-2016 chiếm 78% trong tổng giá trị gia tăng của toàn nền kinh tế và hệ số co giãn của vốn chỉ chiếm 22%. Trong khi đó, tỷ lệ này ở hầu hết các nước trên thế giới tương ứng khoảng 60% - 40%. Điều đó cho thấy nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thâm dụng lao động, phải cần một lượng vốn rất lớn mới tạo ra được tăng trưởng về giá trị tăng thêm, lợi nhuận của doanh nghiệp ngày càng bị thu hẹp.

Nếu tăng lương tối thiểu vùng lên 8% và năng suất lao động không tăng lên thì hệ số co giãn của lao động và vốn sẽ ở mức 82% - 18%, như vậy doanh nghiệp sẽ gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Có thể thấy LĐLĐ và VCCI đều có lý khi đưa ra quan điểm của mình và đó cũng là nghịch lý của nền kinh tế Việt Nam.

Nên chăng việc tăng lương hay không nên để người sử dụng lao động và người lao động tự quyết và thị trường lao động cũng cần được minh bạch hóa và thị trường hóa. Lúc đó việc tăng lương phụ thuộc vào tăng năng suất lao động. Với một nền kinh tế gia công gần như toàn diện thì dù Hội đồng Tiền lương quốc gia có nghiên về đòi hỏi của phía nào thì cũng bất lợi cho nền kinh tế.

Bùi Trinh

Vị trí đặt bình chọn
TIN BÀI LIÊN QUAN
Chia sẻ:
   
CÙNG CHUYÊN MỤC
Giấy phép Báo điện tử số: 2302/GP-BTTTT, cấp ngày 29/11/2012