Đừng tạo tiền lệ “cơ chế đặc thù cá biệt” với... cát
Thứ Ba,  7/8/2018, 08:53 

Đừng tạo tiền lệ “cơ chế đặc thù cá biệt” với... cát

Tô Văn Trường

(TBKTSG) - Bộ Quốc phòng mới kiến nghị Thủ tướng phương án cho phép xuất khẩu 25 triệu mét khối cát nhiễm mặn theo “cơ chế đặc thù cá biệt”. Vấn đề đặt ra là có nên đưa ra một cơ chế như vậy với cát hay không?

Cát là một nguồn tài nguyên khoáng sản, không phải là nguồn tài nguyên vô hạn. Ảnh: LÊ HOÀNG VŨ

Ngày 7-3-2017, Phó thủ tướng thường trực Trương Hòa Bình chủ trì cuộc họp với các bộ, ngành đánh giá tình trạng khai thác cát sỏi trái phép. Tại cuộc họp này, Văn phòng Chính phủ đã kiến nghị Chính phủ chỉ đạo tạm dừng cấp phép xuất khẩu cát nhiễm mặn tận thu từ các dự án xã hội hóa để nhà đầu tư chủ động trong việc xây dựng kế hoạch nạo vét và sử dụng sản phẩm tận thu.

Cụ thể hóa vấn đề trên, Phó thủ tướng chỉ đạo Bộ Giao thông Vận tải tạm dừng cấp mới giấy phép các dự án xã hội hóa tận thu cát nhiễm mặn để bù chi phí nạo vét, duy tu các tuyến luồng đường thủy; đồng thời, tăng cường kiểm tra, giám sát chặt chẽ các dự án đang thực hiện, kịp thời phát hiện, kiên quyết xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.

Đặc điểm cát ở Việt Nam

Cát xây dựng ở Việt Nam được chia thành bốn loại thông dụng: cát san lấp, cát bê tông, cát xây, cát tô (cát xây, cát tô có thể được gọi chung là cát xây tô).

Cát bê tông, cát xây, cát tô là cát sông loại sạch, đảm bảo cỡ hạt theo tiêu chuẩn TCVN 1770 - 86 để sử dụng đúng cho từng loại công việc, đảm bảo yêu cầu kỹ thuật.

Riêng cát san lấp, có thể dùng loại cát nhiễm mặn nhưng nếu dùng trực tiếp cũng có thể ảnh hưởng đến công trình do nồng độ muối cao và nhiều tạp chất có thể ăn mòn bê tông cốt thép trong hố móng.

Hiện nay, ở Việt Nam đã có một số nghiên cứu xử lý cát nhiễm mặn để phù hợp với các tiêu chuẩn xây dựng. Tháng 5-2017, Phó thủ tướng Trịnh Đình Dũng giao Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ và các cơ quan liên quan nghiên cứu sử dụng cát nhiễm mặn phục vụ xây dựng trong nước; xây dựng các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật sử dụng cát nhiễm mặn làm vật liệu xây dựng, ban hành hoặc trình ban hành theo quy định. Tháng 3-2018, một doanh nghiệp là Công ty TNHH Xây dựng Thương mại Phan Thành (Cần Thơ) đã nghiên cứu hệ thống xử lý cát nhiễm mặn phục vụ xây dựng. Kết quả kiểm nghiệm cho thấy, cát bị nhiễm mặn sau khi xử lý có hàm lượng ion clo tan trong axit đều đảm bảo các thông số kỹ thuật, đảm bảo sử dụng tốt cho xây dựng công trình.

Mất cân đối cung - cầu, chưa tính đến mục tiêu bồi đắp chính mình

Trước hết, phải khẳng định cát là một nguồn tài nguyên khoáng sản, không phải là nguồn tài nguyên vô hạn. Nhiều năm qua, việc khai thác cát, tận thu cát nhiễm mặn đã diễn ra ở nhiều địa phương ven biển. Một số khu vực được bồi lấp nhờ lượng cát từ thượng nguồn chuyển ra vùng cửa sông ven biển; ngược lại, nhiều khu vực khác, cát bị thiếu hụt gây xói lở. Dọc cửa sông, bờ biển, cát vốn không tự nhiên có mà nó dịch chuyển từ nơi này sang nơi khác. Do vậy, để bảo vệ bờ biển hữu hiệu, không chỉ xây dựng các công trình cứng mà còn phải tính đến giải pháp... chuyển cát.

Thực tế hiện nay, nguồn cung cát phục vụ san nền khan hiếm vì nguồn cung từ thượng nguồn giảm. Các doanh nghiệp buộc phải sử dụng các nguồn cát mặn tận thu trong quá trình nạo vét các cảng, cửa sông để san nền khu đô thị, sân golf... Quy hoạch tổng thể phát triển vật liệu xây dựng đến năm 2020, tầm nhìn năm 2030 dự báo nhu cầu cát xây dựng đến năm 2020 của cả nước khoảng 130 triệu mét khối. Tổng công suất thiết kế của các cơ sở khai thác, chế biến cát xây dựng đạt khoảng 130-150 triệu tấn/năm. Tuy nhiên, theo Vụ Vật liệu xây dựng (Bộ Xây dựng), nhu cầu sử dụng cát hàng năm hiện nay đã đạt ngưỡng 130 triệu mét khối/năm. Sự gia tăng nhanh chóng về nhu cầu sử dụng cát xây dựng những năm qua khiến mất cân đối cung - cầu, giá cát đã tăng lên chóng mặt.

Bên cạnh đó, cần lưu ý là rất nhiều nước đang thu mua cát để bồi đắp, mở rộng bãi biển, điển hình như Hà Lan, Singapore. Trong khi đó, chúng ta không bồi đắp, mà lại bán đi. Trường hợp nhu cầu trong nước tại thời điểm này chưa sử dụng thì nên tính đến phương án dự trữ làm nguồn sử dụng lâu dài, tránh việc phải nhập khẩu trong tương lai như hiện trạng của một số mặt hàng khoáng sản hiện nay.

Về mặt quản lý, công tác lập, thẩm định, phê duyệt của một số dự án nạo vét, khai thác cát và lựa chọn đơn vị thực hiện dự án còn bất cập và hạn chế, việc công khai minh bạch còn nặng về hình thức bởi “quân xanh, quân đỏ”, chưa chọn được đơn vị có đủ năng lực triển khai dự án nên thời gian thực hiện kéo dài. Công tác đánh giá tác động môi trường chưa lường hết được tác động phức tạp của quá trình nạo vét đến môi trường. Sự phối hợp giữa các bộ, ngành và địa phương trong công tác kiểm tra, giám sát, trao đổi số liệu về khối lượng cát nhiễm mặn xuất khẩu của các dự án chưa thường xuyên...

Để quản lý và khai thác hiệu quả

Thứ nhất, UBND các địa phương và các ngành cần rà soát, tính toán cân đối cung - cầu cát sỏi xây dựng, cát nhiễm mặn và vật liệu san lấp. Rà soát, đánh giá lại quy hoạch khai thác cát tại các cửa sông, cảng biển (lộ trình, trữ lượng, quy mô thực hiện, nguồn vốn, nhất là phương thức xã hội hóa...). Quy hoạch những khu vực cần đổ cát gây bồi, hoặc cần san lấp tạo mặt bằng.

Thứ hai, công khai, minh bạch, tổ chức các đơn vị giám sát độc lập toàn bộ các khâu trong quy trình nạo vét tận thu cát. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ tình hình thực hiện các dự án nạo vét khơi thông luồng.

Thứ ba, cần định giá thuế tài nguyên với nguồn cát nhiễm mặn.

Thứ tư, xây dựng và ban hành các quy chuẩn, tiêu chuẩn sử dụng cát biển trong một số nội dung như: sử dụng làm nguyên liệu để chế tạo bê tông khí chưng áp, làm bê tông và vữa, làm vật liệu san lấp phục vụ chống sạt lở bờ biển, mở rộng và tôn tạo đảo và các khu vực ven biển có địa hình trũng, thấp.

Thứ năm, các cơ quan chức năng hoàn toàn có thể thẩm định, phát triển các nghiên cứu theo hướng tận dụng cát nhiễm mặn trong xây dựng để giảm lượng khai thác cát sạch trên các con sông nội địa, qua đó góp phần giảm thiểu hiện tượng hạ thấp lòng dẫn và xói lở bờ sông đang diễn ra rất nghiêm trọng khắp cả nước.

Tóm lại, không nên xuất khẩu cát nhiễm mặn vì bất kỳ lý do gì. Bộ Quốc phòng mới đây đã xin cơ chế đặc biệt để xuất khẩu cát mặn sẽ “lợi bất cập hại”. Bộ Quốc phòng “đầu xuôi” thì sẽ có nhiều bộ, ngành khác “đuôi lọt”, dễ “té nước theo mưa” vì cơ chế đặc thù thì bộ, ngành nào cũng vẽ ra được. 

Bộ Quốc phòng xin xuất khẩu 25 triệu mét khối cát nhiễm mặn

Theo công văn Bộ Quốc phòng gửi Thủ tướng Chính phủ, để đảm bảo an toàn cho tàu thuyền Quân chủng Hải quân neo đậu, cơ động thực hiện nhiệm vụ quốc phòng an ninh, Bộ Quốc phòng đã chỉ đạo Quân chủng Hải quân triển khai ba dự án nạo vét luồng vào các cảng quân sự tại Cam Ranh và Phú Quốc. Trong số này, có dự án chưa triển khai được do chủ trương không xuất khẩu mọi loại cát ra nước ngoài của Chính phủ, các địa phương chưa có nhu cầu sử dụng cát nhiễm mặn san lấp.

Bộ Quốc phòng đề xuất Chính phủ bố trí nguồn vốn ngân sách nhà nước để triển khai thực hiện các dự án nói trên. Nếu Chính phủ không bố trí được nguồn ngân sách, đề nghị Thủ tướng cho phép Bộ Quốc phòng tiếp tục thực hiện các dự án trên theo “cơ chế đặc thù cá biệt”, được xuất khẩu toàn bộ khối lượng cát nhiễm mặn tận thu từ dự án để lấy thu bù chi. Dự kiến khối lượng cát nhiễm mặn xuất khẩu là 25 triệu mét khối.

Theo Vneconomy.vn

Vị trí đặt bình chọn
TIN BÀI LIÊN QUAN
Chia sẻ:
   
CÙNG CHUYÊN MỤC
Giấy phép Báo điện tử số: 2302/GP-BTTTT, cấp ngày 29/11/2012