Dự thảo Luật quản lý thuế: Nhiều nhiệm vụ giao nhầm đối tượng
Thứ Hai,  20/8/2018, 13:56 

Dự thảo Luật quản lý thuế: Nhiều nhiệm vụ giao nhầm đối tượng

Phan Minh Ngọc

(TBKTSG) - LTS: Cuối tháng 7 vừa qua, Bộ Tài chính trình Chính phủ dự thảo Luật Quản lý thuế (sửa đổi). Tính từ khi Luật Quản lý thuế ra đời năm 2006, đây là sửa đổi lần thứ tư theo nhịp độ hai năm một lần, từ lần sửa đổi đầu tiên năm 2012. Đối tượng chịu sự điều chỉnh và liên quan đến luật này là rất lớn, vì vậy, nội dung của luật cần được hoàn thiện. Chuyên đề tuần này của TBKTSG xin giới thiệu các ý kiến đóng góp cho dự luật này.

Ngân hàng thương mại chỉ là trung gian thực hiện các giao dịch, nếu có, giữa người nộp thuế và cơ quan thuế, chứ chúng không thể, không có tư cách pháp lý đại diện cho cơ quan thuế để làm những công việc của cơ quan thuế. Ảnh: NGUYỄN NAM

Bài viết này chọn và nêu một số điểm chưa hợp lý trong dự thảo Luật Quản lý thuế sửa đổi liên quan đến nhiệm vụ được giao cho một số đối tượng phi nhà nước, cần được xem xét, sửa đổi để phù hợp hơn.

Thứ nhất, điều 25 quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp trong việc quản lý thuế. Theo đó, các tổ chức này phối hợp với cơ quan quản lý thuế trong việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về thuế, cung cấp thông tin liên quan đến việc quản lý thuế.

Mặc dù điều khoản trên không nói rõ là các tổ chức này phải thực hiện những nội dung tuyên truyền và cung cấp thông tin trên nhưng vì điều khoản này đề cập đến nhiệm vụ, quyền hạn của các tổ chức này nên có thể hiểu rằng họ có nhiệm vụ tuyên truyền và cung cấp thông tin về thuế. Quy định như thế này là không thỏa đáng, ít nhất với những tổ chức tự chủ về kinh phí, không nhận kinh phí hoạt động từ ngân sách.

Xin lưu ý, ngân hàng thương mại không phải là cánh tay nối dài của cơ quan thuế, không thụ hưởng ngân sách, nên không có nghĩa vụ phải phối hợp với cơ quan thuế làm nhiều việc về quản lý thuế.

Nói cách khác, nếu có tổ chức nào đó phải thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền này thì cùng lắm chỉ là những tổ chức do Nhà nước lập ra, thụ hưởng ngân sách nên phải thực hiện những công việc, nhiệm vụ mà Nhà nước giao mà thôi.

Có phần tương đồng như vậy là điều 26 quy định nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan thông tin, báo chí trong việc quản lý thuế. Mặc dù hiện nay chưa có cơ quan thông tin, báo chí tư nhân nhưng, ngược lại, cũng không hoàn toàn chỉ có báo chí nhà nước, “sống nhờ” (hoàn toàn) vào ngân sách. Do có cả mục đích kinh doanh, theo đuổi lợi nhuận, nên báo chí không có nghĩa vụ, nhiệm vụ phải đăng cái gì đó không đem lại hiệu quả kinh tế cho họ.

Như vậy, trừ khi cơ quan thuế ký hợp đồng hợp tác tuyên truyền (và trả phí), nhiều tờ báo có quyền từ chối tuyên truyền, cung cấp thông tin về quản lý thuế, nếu muốn. Nên quy định như điều 26 là sự trói buộc bất hợp lý, trái luật với cơ quan thông tin, báo chí nói chung.

Điều 27 quy định về nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của ngân hàng thương mại (NHTM) trong quản lý thuế có tiến bộ hơn điều khoản 25 và 26 ở góc độ là nó chỉ rõ phạm vi đối tượng thực thi điều khoản này - các NHTM “khi tham gia phối hợp” (với cơ quan thuế). Điều này cũng có nghĩa là các ngân hàng khác không thuộc đối tượng này (khi không phối hợp với cơ quan thuế) thì không phải thực hiện những nội dung trong điều khoản này.

Nhưng như vậy thì dự thảo phải có thêm quy định NHTM như thế nào thì sẽ được hoặc phải “phối hợp” với cơ quan thuế trong việc quản lý thuế, và nếu “phối hợp” như vậy thì sẽ được lợi ích cụ thể gì để “trả công” cho sự “phối hợp” này. Bởi, xin lưu ý, NHTM không phải là cánh tay nối dài của cơ quan thuế, không thụ hưởng ngân sách, nên không có nghĩa vụ phải phối hợp với cơ quan thuế làm nhiều việc về quản lý thuế.

Mặt khác, điều 27 đề ra khá nhiều công việc cho NHTM mà thực chất là những công việc, nhiệm vụ của mạng lưới kho bạc, của cơ quan thuế. Tuy, như trên đã nói, NHTM có thể được trả công để thực hiện những công việc của kho bạc, của cơ quan thuế, nhưng câu hỏi nảy sinh là vậy thì hệ thống kho bạc, cơ quan thuế tồn tại để làm gì, ngân sách trả tiền cho họ để làm gì, tại sao cơ quan thuế không làm những công việc hiển nhiên thuộc trách nhiệm của mình, ví dụ hỗ trợ người nộp thuế điện tử, mà lại muốn giao cho NHTM?

Nếu vì lý do là cơ quan thuế, kho bạc bị quá tải, không đảm đương hết được những công việc này nên phải thuê NHTM giúp thêm thì điều này thuộc phạm trù khác, không được phép đưa vào luật.

Trên hết, nên nhớ rằng NHTM chỉ là trung gian thực hiện các giao dịch, nếu có, giữa người nộp thuế và cơ quan thuế (chẳng hạn như thực hiện lệnh chuyển tiền (để nộp thuế) của chủ tài khoản đến một tài khoản chỉ định bởi cơ quan thuế), chứ chúng không thể, không có tư cách pháp lý đại diện cho cơ quan thuế để làm những công việc của cơ quan thuế.

Sẽ càng phi lý nếu NHTM (phải tự động) “khấu trừ, nộp thay nghĩa vụ thuế phải nộp theo quy định pháp luật về thuế của tổ chức, cá nhân ở nước ngoài có hoạt động kinh doanh thương mại điện tử có phát sinh thu nhập từ Việt Nam theo hướng dẫn của Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam”. Bởi, trách nhiệm và thẩm quyền tính thuế, bắt nộp thuế là của cơ quan thuế (và cơ quan chức năng liên quan) chứ không phải của NHTM. Cùng lắm chỉ có thể quy định khi có yêu cầu bằng văn bản của cơ quan chức năng (cơ quan thuế, hoặc tòa án...), NHTM phải (và được quyền) thực hiện việc này (trong từng trường hợp cụ thể).

Việc yêu cầu NHTM định kỳ cung cấp thông tin tài khoản của người nộp thuế mở tại ngân hàng cho cơ quan quản lý thuế cũng là một điều bất hợp lý. Vì ít nhất nó cũng là một gánh nặng cho NHTM khi phải định kỳ cung cấp số liệu có trong hàng triệu tài khoản của cá nhân, tổ chức. Nếu muốn theo dõi các giao dịch bất thường đã có quy định riêng cho NHTM phải báo cáo các giao dịch loại này cho cơ quan chức năng. Tất nhiên, có thể quy định NHTM phải cung cấp thông tin của những tài khoản thuộc diện nghi ngờ, bị theo dõi bởi cơ quan chức năng, chứ không phải của các tài khoản khác. 

TIN BÀI LIÊN QUAN
Chia sẻ:
   
CÙNG CHUYÊN MỤC
Giấy phép Báo điện tử số: 2302/GP-BTTTT, cấp ngày 29/11/2012