Luật châu Âu - ngẫm đến chuyện bản quyền Việt Nam
Thứ Bảy,  22/9/2018, 15:43 

Luật châu Âu - ngẫm đến chuyện bản quyền Việt Nam

TS. Lê Thị Thiên Hương

(TBKTSG) - Sách sử kể lại rằng, một ngày kia, nhà vua Ailen Diarmait mac Cerbaill đã phải xét xử một trong các vụ kiện kỳ lạ nhất - một vụ kiện liên quan tới “quyền tác giả”.

Việt Nam sẽ khó có thể chuyển đổi sang một nền kinh tế “tri thức” như mong đợi nếu như không có những cải thiện đáng kể trong lĩnh vực quyền tác giả nói riêng, và trong sở hữu trí tuệ nói chung. Ảnh: UYÊN VIỄN

Chuyện là một lần khi tới thăm tu viện, thầy dòng Colomba d’Iona đã chép trộm một quyển sách của tu sĩ Finnian de Moville. Phát hiện ra sự việc, người này đã đòi kẻ chép trộm kia trả lại bản sao. Không giải quyết được, vụ việc lên tới tận nhà vua, và phán quyết đưa ra tóm gọn trong câu nói nổi tiếng “bê con thì thuộc về mẹ bò, và bản sao thuộc về chính quyển sách đó”. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử, bản sao một quyển sách được coi là thuộc về người viết ra sách. Câu chuyện này xảy ra vào thế kỷ thứ 6, sau Công nguyên.

Hơn 1.400 năm đã trôi qua kể từ vụ kiện này. Thế nhưng, tranh cãi giữa hai luồng tư tưởng, bên thì bảo vệ quyền lợi tác giả, bên thì đòi tự do chia sẻ thông tin trên mạng, vẫn tiếp diễn.

Châu Âu với luật về quyền tác giả trong thế giới số hóa

Thực thế, ngày 12-8-2018, Nghị viện châu Âu đã thông qua luật về quyền tác giả trong thế giới số hóa (tuy nhiên, luật này chưa phải là bản “cuối cùng”, nó sẽ được điều chỉnh bởi Hội đồng Liên minh châu Âu trước khi mỗi quốc gia thành viên có nghĩa vụ đưa các quy định mới này vào luật quốc gia). Phản ứng của người châu Âu với luật này cũng đa dạng: đối với các ngành công nghiệp văn hóa và giải trí, đây là thắng lợi rõ ràng. Ngược lại, với các ông trùm Internet như Google, Youtube, Facebook, Twitter... thì việc thông qua luật này chẳng khác gì một cú đấm vào quyền tự do chia sẻ kiến thức và thông tin trên mạng.

Một trong những điểm thu hút sự chú ý nhất của dư luận chính là điều 13. Điều luật này buộc những trang web cho phép người sử dụng tự do đăng tải thông tin (như Google, Youtube, Facebook... - còn được gọi là các platform - nền tảng kết nối) phải ký kết các thỏa thuận về chia sẻ doanh thu với chủ sở hữu quyền tác giả (của các tác phẩm chia sẻ trên mạng). Chỉ trong trường hợp này, người sử dụng mới có thể đăng tải một cách hợp pháp các nội dung được bảo vệ bởi luật bản quyền trên trang web. Nếu nền tảng kết nối và chủ sở hữu quyền tác giả không đi đến thỏa thuận được thì trang web này buộc phải có biện pháp không cho phép người sử dụng được đăng tải các nội dung đó. Điều ấy có nghĩa là các nền tảng kết nối phải đảm bảo tuân thủ nghĩa vụ “kiểm soát” nội dung đăng tải bởi người sử dụng.

Thực ra cơ chế này đã và đang được thực hiện bởi Youtube. Ông trùm công nghệ này ký kết vô số thỏa thuận với các chủ sở hữu quyền tác giả để chia sẻ doanh thu đến từ quảng cáo, đồng thời có hệ thống kiểm soát dựa trên “ContentID” cho phép phát hiện những nội dung có bản quyền bị người dùng đưa lên mạng một cách bất hợp pháp. Tuy nhiên, hiện nay, không có nhiều nền tảng kết nối áp dụng cơ chế này của Youtube, vì thế luật này sẽ làm thay đổi đáng kể hiện trạng bảo vệ bản quyền trên mạng.

Không chỉ thế, cũng nên nói đến điều 11 của luật. Đó chính là kết quả của “vận động hành lang” tích cực từ giới báo chí. Điều 11 công nhận một “quyền” mới - đó là quyền “liên quan” trong lĩnh vực báo chí trên mạng. Cụ thể là khi một nền tảng kết nối (như Google hoặc Facebook) sử dụng lại một bài báo đã đăng trên mạng, thì trang web này sẽ phải trả một khoản chi phí cho bên xuất bản bài báo đó. Ví dụ, khi một người sử dụng Facebook chia sẻ một bài báo thì trên trang cá nhân của người đó sẽ hiện lên ảnh minh họa của bài báo, tít bài báo cùng với vài dòng đầu tiên. Chỉ cần như thế là đủ coi là một sự “sử dụng” tác phẩm có bản quyền và hiển nhiên cần “chia sẻ doanh thu” cho tác giả. Tuy nhiên, chưa có quy định rõ ràng liên quan tới mức chi phí này, mà bên phản đối gọi bằng cái tên châm biếm “thuế chia sẻ đường dẫn”.

Tất nhiên, việc chia sẻ kiến thức vẫn cần được coi là mục đích của quyền tác giả, vì thế luật này còn tạo ra một “ngoại lệ” cho các nhà nghiên cứu. Ngoại lệ cho phép sử dụng cơ chế tìm kiếm thông tin tự động (text and data mining) - cơ chế giúp cho người tìm “lục lọi” thông tin trong vô số các bài nghiên cứu và dữ liệu khoa học mà không vi phạm luật.

Đây không phải là lần đầu tiên Liên minh châu Âu có luật về bản quyền. Một số khía cạnh của luật bản quyền đã được quy định ở phạm vi liên minh, nhưng luật này được thông qua từ năm 2001 - thời mà chia sẻ thông tin trên mạng chưa bùng nổ như bây giờ. Giờ đây, sự nổi lên của nhóm các ông trùm GAFAM (Google, Apple, Facebook, Amazon, Microsoft) đã đặt quyền tác giả vào những thách thức mới. Rõ ràng là các nền tảng kết nối này được lợi rất nhiều từ những nội dung có bản quyền mà người sử dụng đưa lên, nhưng trước giờ chưa có câu trả lời cụ thể rõ ràng về việc thế nào sẽ bị coi là phạm luật. Chính vì thế, Liên minh châu Âu thông qua luật cải cách luật bản quyền này, nhằm đảm bảo tốt hơn quyền lợi tác giả trong kỷ nguyên kỹ thuật số. Nếu như chia sẻ thông tin, kiến thức là cần thiết, thì việc chia sẻ “trong phạm vi cho phép” mới có thể thực sự thúc đẩy sự phát triển của khoa học kỹ thuật, của văn hóa, bởi vì nhìn một cách “thực dụng” thì không có quyền sở hữu trí tuệ sẽ không ai muốn “sáng tạo” hay đầu tư cho sáng tạo cả.

Việt Nam chưa theo kịp tình hình mới

Sẽ rất khập khiễng khi so sánh Việt Nam với Liên minh châu Âu trong lĩnh vực bảo vệ bản quyền. Trên phương diện văn hóa, có sự khác biệt vô cùng lớn giữa văn hóa phương Tây và phương Đông liên quan tới chủ đề này. Nếu như ở phương Tây, tác giả được coi như chủ sở hữu tác phẩm, và tác phẩm là “tài sản thiêng liêng nhất” của tác giả, và vì thế luật bản quyền đầu tiên ra đời ở châu Âu cách đây đã hàng trăm năm (Luật Anne của Anh ra đời năm 1710, luật của Pháp ra đời một thời gian ngắn sau cách mạng Pháp 1789) thì khái niệm quyền tác giả hoàn toàn không tồn tại trong văn hóa truyền thống phương Đông. Ngược lại, văn hóa Á Đông cho rằng nghệ thuật là “con thuyền” chở “đạo” - tác phẩm sinh ra để giáo dục người đọc, và vì thế, không nên có sự sở hữu cá nhân nào cả.

Trên phương diện pháp luật, cũng phải thừa nhận rằng Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam hiện nay đã rất lỗi thời so với tình hình mới. Luật này được ban hành năm 2005 nhằm mở đường cho Việt Nam vào Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) năm 2007. Kể từ khi ra đời, luật đã được sửa đổi một lần vào năm 2009, nhưng khó có thể nói là hoàn thiện, chưa nói đến vấn đề hiệu quả áp dụng rất kém, dẫn đến việc Việt Nam vẫn xếp hạng vô cùng kém trên bản đồ bảo vệ tài sản trí tuệ trên thế giới, thậm chí thấp hơn nhiều nước láng giếng trong khu vực.

Luật Sở hữu trí tuệ của Việt Nam hoàn toàn không lường trước được sự bùng nổ của Internet và việc chia sẻ rộng rãi các tác phẩm trên mạng. Chính vì thế, hiện nay, nhiều điều luật về quyền tác giả chưa thể đáp ứng được những thách thức mới của kỷ nguyên số. Những hình thức mới trong việc sử dụng và truyền tải tác phẩm như livestream, như chia sẻ đường dẫn (link) đến tác phẩm có bản quyền, như truyền dẫn sóng “lậu” các trận đấu bóng quốc tế là những vấn đề nóng hổi trong dư luận, nhưng lại không hề rõ ràng, cụ thể trong luật hiện nay, đến mức các luật sư còn tranh luận, người bảo phạm luật, người bảo không. Cũng chính vì thế mà các vụ bị xử phạt cũng không đáng kể so với số lượng khổng lồ các vi phạm.

Một lần nữa, động thái làm luật của Liên minh châu Âu cho thấy ở các nước phát triển, họ luôn cập nhật nhanh chóng hệ thống pháp luật cùng với sự thay đổi của xã hội - mà trong trường hợp này - là sự phát triển của công nghệ. Việt Nam sẽ khó có thể chuyển đổi sang một nền kinh tế “tri thức” như mong đợi nếu như không có những cải thiện đáng kể trong lĩnh vực quyền tác giả nói riêng, và trong sở hữu trí tuệ nói chung. 

TIN BÀI LIÊN QUAN
Chia sẻ:
   
CÙNG CHUYÊN MỤC
Giấy phép Báo điện tử số: 2302/GP-BTTTT, cấp ngày 29/11/2012